Phai nhạt bản sắc

Nhà ông Ma Phương (trú buôn Đôn, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) dịp cuối năm lại rộn rã khi con cháu tề tựu sắm sửa lễ vật truyền thống mang ra bến Oai Rong cúng thần nước; Cầu thần phù hộ gia đình, dân làng được bình an. Tại xã Krông Na, ngoài những lễ lớn của người Ê Đê thì những gia đình như ông Ma Phương vẫn đều đặn tổ chức lễ cúng báo thần nước về một năm làm việc của gia đình. Khi nén hương giữa núi rừng đang bốc khói chưa tàn, ông Ma Phương lặng lẽ ngồi bên hòn đá rêu phong, phóng tầm nhìn xa xăm nơi con nước hàng ngàn đời vẫn chảy. Nơi ông ngồi, chỉ cách đây vài chục năm là một vùng rừng bạt ngàn. Khu vực bến nước trước đây từng là khu vực sinh hoạt cộng đồng của cộng đoàn người Ê Đê và cũng là nơi đàn voi nhà quẫy đạp nước… Thế nhưng giờ đây trước mắt ông Ma Phương chỉ ráo trọi  cảnh rừng già tan hoang, voi không về nữa. Qua ánh mắt và khuôn mặt buồn vời vợi, tôi nhận ra những thế hệ như ông Ma Phương càng về tuổi xế chiều thường hoài niệm một thời quá khứ xa xăm.

Tại bến Oai Rong, trước từng là nơi những người đàn bà Ê Đê giặt giũ, trông chừng trẻ nhỏ đùa nghịch nước dưới dòng mát rượi. Là nơi đồng bào Ê Đê dừng chân nghỉ ngơi dưới những hàng cây cổ thụ  sau một ngày lên nương rẫy khó nhọc. Giờ những hoạt động cộng đồng đó hiếm khi diễn ra khiến chứng nhân của quá khứ - bến Oai Rong, vẫn còn đó nhưng mất đi sức sống và linh hồn. Ông Ma Phương nhớ lại, hương ước do các già làng xưa kia lập ra được người trong làng tuân thủ nghiêm ngặt. Hương ước người Ê Đê chủ yếu được truyền miệng nhưng chặt chẽ, len lỏi vào trong từng mái nhà sàn, bếp lửa bập bùng trong đêm. “Ngày lễ lớn, khi người dân quây quần bên bến nước, già làng dõng dạc đọc to hương ước như để nhắc bà con về quy tắc ứng xử giữa người với người, quy tắc giữa người với rừng già. Ấy vây mà giờ đây, những hương ước này không ngăn được lối sống hiện đại, xu hướng cá nhân của một bộ phận người dân" - ông Ma Phương nói và chỉ tay xa tít táp  về phía bờ bên kia bến Oai Rong... Bên kia sông Sêrêpôk từng là một vùng rừng rậm rạp, giờ rừng bị thu hẹp đáng kể dành đất cho người dân sản xuất. 

 Hồi còn nhỏ, ông Ma Bói (65 tuổi, trú buôn Trí A, xã Krông Na) cùng cha mẹ ra bến Oai Rong vào mùa khô gánh nước. Ma Bói kể, khi dòng SêrêPôk khô cạn đáy, bà con trong làng dù thiếu thốn nhưng ưu ái để nài tắm cho voi nhà trước. Lúc trưởng thành, Ma Bói theo nghiệp nài voi nhưng lại chưa một lần đưa voi trở về bến Oai Rong xưa cũ. “Sông Sêrêpôk không còn hiền hòa như xưa khi 2 bờ sông bên lở bên bồi. Rừng bị tàn sát cộng với tình trạng “cát tặt” lộng hành khiến lòng sông sâu hoắm, ăn sâu vào bến Oai Rong nên nài voi không dám mạo hiểm đưa voi về tắm. Bến Oai Rong đã mất đi hồn cốt bởi những cây cổ thụ không còn mà thay vào đó được xây xi măng kiên cố.  Dưới bến nước giờ  lác đác mấy con thuyền đưa dân sang bờ bên kia trồng trọt, canh tác. Những người lớn tuổi như chúng tôi thỉnh thoảng lại tìm ra bến để trông về những kỷ niệm không quay trở lại của một thời tuổi thơ êm đềm…” – ông Ma Bói tâm sự.

 Bao giờ voi về?

Nhiều lần ngồi trò chuyện với những chủ voi vùng hồ Lắk (huyện Lắk), tôi nhận ra trong đôi mắt của các nài voi ẩn chứa nhiều lo lắng vì đàn voi nhà tại Đắk Lắk đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao. Nguyên nhân của việc đàn voi nhà giảm sút được giải thích đơn giản như lời nài voi Y Mứ Bkrông (thị trấn Liêng Sơn, huyện Lắk) bởi “rừng thu hẹp đẩy “không gian yêu” của voi nhà trở nên chật chội, tù túng”. Mà không đáng lo sao được khi hiện tổng đàn voi nhà tại Đắk Lắk chỉ còn 45 cá thể (gồm 26 cá thể cái, 19 cá thể đực), tập trung ở huyện Buôn Đôn và huyện Lắk. Còn ngoài hoang dã, tỉnh Đắk Lắk thống kê có 5 đàn voi với tổng số khoảng 80 đến 100 cá thể tập trung tại các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Cư M’gar. “Cứ thế này, chúng ta không có giải pháp hiệu quả để bảo vệ đàn voi nhà thì trong tương lai, voi nhà tại Đắk Lắk sẽ tuyệt chủng mất thôi!” – ông Ma Bói rầu rĩ.

 Trước đây, HĐND tỉnh Đắk Lắk từng ban hành Nghị quyết số 78 với nội dung “Quy định một số chính sách bảo tồn voi” trong đó, chính quyền cam kết sẵn sàng hỗ trợ hàng trăm triệu đồng cho chủ voi nếu voi cái mang thai thành công. Vất vả lắm Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cùng các nài voi trên địa bàn tỉnh mới sắp xếp để voi cái H’Ban Nang - chủ voi là ông Y Mứ Bkrông, đậu thai thành công với một voi đực có chủ người địa phương. Câu chuyện cổ tích về voi H’Ban Nang đã không có cái kết đẹp khi voi con bị chết lưu trong bụng mẹ trước khi ra đời. 

Trong một lần trò chuyện với chúng tôi, nài voi Y Vinh E Ung (32 tuổi, cháu ông Y Mứ Bkrông) phân tích, nguyên nhân voi con chết sẽ còn được giới khoa học, nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích để rút kinh nghiệm sau này. Duy điều anh Vinh cảm nhận rõ là hiện môi trường sinh sản của voi Tây Nguyên đã thu hẹp đáng kể. Nguyên nhân nữa được kể đến là những con voi nhà trong độ tuổi sinh sản đang bị bóc lột làm du lịch nên thời gian voi "yêu" không có. Từ đó, những mùa voi “yêu”, mùa voi nhà sinh sản hiếm khi diễn ra suông sẻ trong tự nhiên. Như trường hợp voi H’Ban Nang mang thai, các chuyên gia phải đưa voi mẹ vào vùng rừng giữa lòng hồ Lắk lạc lõng. Voi sinh sản trong không gian hẹp, xung quanh là những tán rừng thưa thớt, ô nhiễm vây quanh… Từ lý giải của anh Y Vinh chắc hắn sẽ buộc giới nghiên cứu, chuyên gia tìm một giải pháp hiệu quả trong những lần voi nhà mang thai tiếp theo.

Nằm trong những nỗ lực bảo tồn đàn voi nhà Đắk Lắk, đầu năm 2018, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk tiếp tục áp dụng phương pháp cấp… chứng minh cho voi.  Chứng minh cho voi còn được hiểu là 45 con voi nhà sẽ được gắn chíp điện tử dưới da nhằm giúp dễ dàng quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiên cứu, chăm sóc đàn. Mỗi con voi sau khi được gắn chíp sẽ được lập hồ sơ về các thông số: Chiều cao, cân nặng, giới tính, tiểu sử bệnh... Theo đánh giá, việc “cấp chứng minh” cho voi là một giải pháp hữu hiệu, có khả năng áp dụng trong thực tế cao khi đưa máy đọc vào gần thì các chuyên gia sẽ nhận được phản hồi khi các thông tin cần thiết về chú voi được hiện thị. Riêng việc gắn chip cho voi hoang dã đã được đề xuất nhiều lần nhưng chưa được thực hiện do quãng đường voi di chuyển không có biên giới nên cần phải có sự đồng ý của hai chính phủ Việt Nam và Campuchia.