Người Quảng Nam "cãi" từ rừng xuống… bể

Nguyễn Trung Hiếu |

Trăm năm qua, đất Quảng Nam được mệnh danh là vùng đất “thiên hạ vô địch”… cãi - Quảng Nam hay cãi/ Quảng Ngãi hay co (co cượng)… Đã có đến vài trăm công trình nghiên cứu về tính cách dị biệt này, nhưng y sẽ thú vị hơn khi biết rằng, không chỉ ở miền xuôi, mà kể cả miền ngược, dân tộc Cơ-Tu từ ngàn xưa đến nay còn tồn tại tập quán “nói lý-hát lý”. Lý ở đây là lý sự giữa dòng họ này với gia tộc kia; giữa làng này với làng khác… trong các dịp lễ hội, đình đám, ma chay, cưới hỏi.

Cãi đến… “Quảng Nam vô chánh nhất !

Ở Quảng Nam hiếm ai không biết giai thoại: Một ngày nọ, có người khách tha phương đi qua và ghé vào xin nghỉ chân ở một ngôi nhà miệt Nam Bộ. Gặp lúc nhà đang có việc. Vợ chủ nhà ở cử đã ba ngày nhưng đứa bé chưa chịu toài ra khỏi bụng mẹ.

Nghe chủ nhà là người gốc Quảng Nam, ông khách bày chuyện “cà khịa”, chuyện nọ xọ chuyện kia, làm chủ nhà quên cả vợ đang thoi thóp, mà đỏ mặt, tía tai lao vào cuộc “cãi” với ông khách. Hai người đàn ông to tiếng tranh luận, át cả tiếng rên phòng trong. Đột nhiên nghe tiếng xòa, rồi tiếng bà mụ vui mừng la to: “Sanh rồi, con trai, con trai… Chúc mừng gia chủ !”.

Đến đây người khách phát tiếng cười to mà bảo: “Thằng con anh lỳ lắm. Nhưng nó là thằng hậu duệ dân Quảng Nam, nên tôi phải dùng mẹo dụ nó. Nó đâu có chịu nằm yên khi nghe trận cãi nảy lửa của cha nó bên ngoài…”.

Là câu chuyện mang màu sắc bỡn cợt về tính cách, nhưng khó ai phủ nhận tính cách hay cãi của người Quảng Nam. Họ cãi trong mọi tình huống ! Từ cuộc tụ bạ chỉ có dăm ba người trên bàn nhậu, đến giỗ chạp trong gia đình… thậm chí trên cả báo chí, học thuyết, diễn đàn… và “cãi” không kể đối tượng đó là cấp trên, kẻ dưới, anh em, cha con, thầy trò…

Hội nhập, giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm, Việt, Hoa, Nhật... hình thành nên tính cách dị biệt thích lý sự của người Quảng Nam. Ảnh: Nguyễn Trung Hiếu
Hội nhập, giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm, Việt, Hoa, Nhật... hình thành nên tính cách dị biệt thích lý sự của người Quảng Nam. Ảnh: Nguyễn Trung Hiếu

Trong lịch sử (hay) cãi của người Quảng Nam còn ghi câu chuyện Thủy quân vệ Chỉ huy sứ Nguyễn Văn Lang, người Quế Phú, Quế Sơn, thời nhà Lê, thấy chuyện trái tai, gai mắt trong triều mà dâng sớ “Bình Trị”.

Sớ ông viết có đoạn:“Đời Nghiêu, Thuấn, vua rất thánh minh, nước nhà thạnh trị mà bầy tôi là Bá Ích còn khuyên rằng: Đừng vui quá độ, đừng chơi quá mức, đừng xao lãng việc nước, phải phòng ngừa sự suy vong xảy đến. Vua nghe theo lời mà phòng bị, và trở nên bậc đại thánh... Làm tôi có tâu với vua điều gì mà không thành thật, không khích động thì không giúp ích gì cho vua. Còn nhà vua tiếp lời bầy tôi trần cáo mà không lưu ý thì chẳng khác gì chận ngặt con đường trần gián của bầy tôi...”, rồi ông xin vào Nam để tránh mặt.

Khó mà nói cho rõ, tính cách đó ưu hay nhược trong đời sống xã hội Việt Nam; trong các mối quan hệ phải, trái trên, dưới... Thế nhưng Quảng Nam hẳn ai cũng biết câu: “Quảng Nam vô chánh nhất”. Nghĩa là người Quảng Nam không có Cần chánh điện đại học sĩ, là tước vị cao bậc nhất của triều Nguyễn, dù lắm người học hành xuất sắc và được trao chức vụ cao.

Xét trong lịch sử cận đại, ngoại trừ đất Thừa Thiên – Huế, là đất đế đô, đất của triều đình, của quan lại, còn hai tỉnh nhỏ phải phụ thuộc hành chánh vào tỉnh lớn khác là Quảng Trị, Quảng Ngãi, thì tổng đốc thường do người Quảng Ngãi như Trương Đăng Quế, Nguyễn Thân, Quảng Trị như Nguyễn Văn Tường… mà hiếm có cái tên nào ở Quảng Nam được xướng lên.

Học giả Nguyễn Văn Xuân cho rằng, trong lịch sử với tính cách hay lý sự, người Quảng Nam gặp nhiều trắc trở trong thăng quan, tiến chức. Thời thế nào nghe tiếng “hay cãi” thì kẻ trên, người dưới đều không mấy dễ chịu. Danh tướng Ông Ích Khiêm, một nhân tài 15 tuổi đâu cử nhân, đích thân vua Thiệu Trị kiểm tra và phê son khen ngợi, cùng những chiến tích lẫy lừng, cuối cùng phải tự độc trong ngục vì “cãi” vua; rồi Phan Châu Trinh, Phạm Phú Thứ, Lê Vĩnh Khanh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi… đều là bậc nhân sĩ, dù được xã hội trọng tài, nhưng không được chế độ đương thời trọng dụng cũng vì “tật”… hay cãi!

Trong cuốn “Phong trào Duy Tân”, học giả Nguyễn Văn Xuân có đoạn viết: “Với những vị thủy tổ có thành tích cãi vua kiểu đó, thì trách chi trong bản chất của người Quảng đã có máu cãi”. Và vì vậy, cũng không trách chi câu chuyện mở đầu, dù là giai thoại, nhưng hàm ý, đã là người Quảng Nam, thì chưa lọt lòng mẹ đã có máu lý sự trong tính cách !

Cãi thấu… rừng xanh !

Người Cơ Tu ở Quảng Nam chủ yếu quần cư ở huyện Tây Giang, Đông Giang và 6 xã ở huyện Nam Giang, đọc trên sườn Trường Sơn, giáp biên giới Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Tập quán nói lý, hát lý trong cộng đồng người Cơ Tu không biết có tự bao giờ, già làng lớn tuổi nhất không nhớ nổi, nhưng đó là sinh hoạt gần như một nghệ thuật văn hóa dân gian, nhan nhác loại hình hò khoan, đối đáp ở miền xuôi.

Nói lý - hát lý, người Cơ Tu gọi là P’rá pr’ma, têng bh’noóch, tr’a. Do đây là loại hình đối đáp ứng khẩu, nên hầu như không được ghi chép thành văn; mà chủ yếu là truyền khẩu. Cái lý trong hát lý, nói lý của người Cơ Tu chủ yếu sử dụng các hình tượng ẩn dụ, nhân hóa các hiện tượng tự nhiên, vật dụng quen thuộc hoặc con thú, chim muôn sống trong rừng, trong rẫy gần gũi với đời sống đồng bào dân tộc.

Cái đích của nói lý, hát lý nằm trong lý lẽ câu chuyện, nhằm dẫn dắt, giúp người đối diện hiểu sâu sắc, cặn kẽ, chí tình, để đi đến đồng cảm với nhau. Tuy vậy trong xa xưa, đôi khi hát lý, nói lý còn là… cái lý để dẫn đến sự thù hằn, mâu thuẩn giữa các dòng họ, làng này với làng khác…

Già làng B’nước Bâu, huyện Nam Giang nói: “ Không phải ai cũng nói lý - hát lý được, mà phải là những người già có kinh nghiệm sống; thuộc cái rừng, cái rẫy; con sông, khe suối trong vùng; thậm chí đến cả tập tính của con thú trong rừng… Đó là cả một quá trình trải nghiệm, tích lũy những cái hay cái đẹp trong cuộc sống hàng ngày, từ mối quan hệ giữa con người với nhau, đến thiên nhiên, địa lợi sinh cảnh quanh vùng. Có vậy mới dùng cái lý qua câu hát, câu nói đối đáp, làm cho người đối diện phải tâm phục, khẩu phục.

Thông thường nói lý - hát lý chỉ diễn ra khi có sự kiện trọng đại. Ví như tiếp khách là sui gia tương lai, chủ nhà sẽ sử dụng hình tượng cụ thể nào đó để khiêm tốn ám chỉ rằng, sự chuẩn bị của gia đình chưa được chu đáo, khách thứ lỗi cho. Đáp lại khách cũng trả lời bằng câu lý, hàm ý cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình, trịnh trọng của gia đình… Và sau nhiều câu hát đối đáp để tìm hiêu về nhau, những cuộc rượu sẽ theo câu hát triền miên, thâu đêm suốt sáng.

Ảnh: Nguyễn Trung Hiếu
Ảnh: Nguyễn Trung Hiếu

Hay trong cuộc cưới xin, nhà gái thường hát câu lý bày tỏ lòng biết ơn, vì nhà trai đã cưới hỏi con gái mình, không phân biệt phận nghèo; đồng thời bên nhà gái cầu chúc đôi uyên ương sống hạnh phúc, yêu thương nhau suốt đời. Theo đó nhà trai cũng bày tỏ niềm vui sướng trong ngày vu quy của hai gia đình. Và thay mặt chàng trai nói lên nỗi khó khăn thân phận, nhưng hứa sẽ luôn thương yêu chung thủy với người vợ…

Không ít cuộc nói lý - hát lý để giải quyết các mâu thuẫn, xích mích trong các mối quan hệ giữa gia đình với bạn bè, xã hội, công việc… Và khéo léo, bằng các lý lẽ, lối nói ẩn dụ, thể hiện ý tứ sâu sắc, tài ứng khẩu, người nói lý - hát lý am hiểu bản chất của vấn đề, sẽ nêu lên hình ảnh gì, con vật và hiện tượng gì cho phù hợp.Và cứ vậy, hai bên trình bày cạn cùng nguyên nhân gây ra mâu thuẩn, để tìm sự cảm thông, đoàn kết. Ngược lại hai bên thiếu uyển chuyển, không khéo cuộc nói lý, hát lý cũng dễ dẫn ra những hệ lụy lâu dài suốt nhiều thế hệ.

Học giả Nguyễn Văn Xuân phân tích hiện tượng dị biệt này có thể xuất phát từ đặc điểm giao thoa, tiếp biến của hiện tượng đa văn hóa của các chủng dân cùng sống trên một vùng đất như Chăm, Việt, Hoa, Nhật, Tây phương… Hình thành tập quán ưa lý sự, không ngại đối diện bằng lý lẽ từ miền xuôi lên đến miền ngược, đòi hỏi khả năng ứng khẩu mang tính đối đáp nhanh, thấu tình đạt lý.

Vì vậy, không phải chày bửa, cãi lấy được, mà cũng như nói lý, hát lý, tranh luận cũng là một nghệ thuật, đòi hỏi sự uyên bác, hiểu biết vấn đề sâu sắc, giải thích đúng nghĩa để hiểu nhau được. Từ đó cho thấy muốn cãi thì cần phải học hỏi, tích lũy kinh nghiệm sống và kinh nghiệm của cha ông đi trước để lại.

Thành ngữ có câu: “Quá mù, sa mưa”. Cãi hoặc nói hoa mỹ hơn là tranh luận, thì cũng đừng để cái lý lấn át cái tình, dẫn đến bất đồng, bất hòa, mà sinh hậu họa.

Đường về nhà là trong tim ta!

THUỲ TRANG |

Trên con đường gập ghềnh rời xã Trà Leng, huyện Nam Trà My, Quảng Nam một ngày cuối năm, tôi tỉnh giấc vì một cú xốc xe. Cả đoàn choàng tỉnh giấc nhưng rồi im bặt. Bên ngoài là điểm sạc lở vùi lấp một ngôi làng. Có gì đó đè nặng ở lòng ngực, tôi nhắm chặt mắt. Bài nhạc phát trên xe cứ văng văng “đường về nhà là trong tim ta, dẫu nắng mưa gần xa. Thất bát, vang danh, nhà vẫn luôn là nhà”. Vậy nhưng, còn đâu những ngồi nhà cho những con người, những đứa trẻ nơi đây!

“Bật mí” 4 cung đường du lịch mùa đông đẹp miên man

Thái An |

Đối với những người ham mê xê dịch, họ sẽ làm gì để mùa đông trở nên ấm áp hơn? Cùng tham khảo những điểm du lịch mùa đông đẹp như tranh tại Việt Nam.

Độc đáo ngôi đình 100 tuổi có 2 cây bồ đề mọc trên mái ở Tiền Giang

NGUYÊN TRI |

Ở tỉnh Tiền Giang có một ngôi đình “độc nhất vô nhị” vì có 2 cây bồ đề với hàng trăm búi rễ ôm trọn thân đình.

Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức lễ hội Trung thu “Rộn ràng đón trăng”

Tường Minh |

Như thường niên, năm nay, Bảo tàng Đà Nẵng tiếp tục tổ chức lễ hội Trung thu cho thiếu nhi với chủ đề "Rộn ràng đón trăng" tại khuôn viên Bảo tàng, số 24 Trần Phú vào chiều 26.9 tới đây.

Có một bình yên mang tên Lý Sơn

Mai Hương - Thanh Chung |

Lý Sơn,Quảng Ngãi, nằm cách đất liền 15 hải lý. Đến Lý Sơn, du khách có thể ngắm nhìn hoàng hôn, cảm nhận cuộc sống yên bình nơi đây.