Nhớ năm nào đó ở tận cùng Cà Mau, cũng trên một vùng biển như thế này. Tôi cùng đồng nghiệp Nhật Hồ đi dò hỏi về những phận người cùng cực phải kiếm cơm bằng “nghề” chặt phá rừng lấy củi về hầm than. Giờ vẫn còn rưng rưng chuyện hai đứa đã ứa nước mắt khi nghe một cô bé tức tưởi, giàn giụa kể chuyện vừa bị mấy cán bộ giữ rừng rượt đuổi đến sẩy thai nhưng kiên quyết không bỏ lại cây rừng khi chạy vì thả cây đồng nghĩa với việc ngày mai, ngày kia con mình, chồng mình sẽ đói.

Chiều đó vừa đặt chân vào hiên một gia đình nghe nói chuyên hầm than, đã thấy trong nhà bao nhiêu người là bấy nhiêu gậy gộc giáo mác túa ra đằng đằng sát khí bởi “không biết hai thằng mày là thằng nào, đến đây với mục đích gì”. Ấy vậy mà sau khi nghe hai đứa lễ phép trình bày “tụi cháu là nhà báo, nhỏ giờ chưa thấy cái hầm than nó lớn bé vuông tròn thế nào, nghe bảo nhà chú có hầm than nên muốn đến xem cho biết” là ai nấy thở phào, mặt mày giãn ra.

Hai đứa không những được chủ nhà dẫn đi xem hầm than đang ngụy trang rất kín ở sau vườn nhằm qua mặt cơ quan chức năng mà còn được giết gà đãi rượu. Người miền Tây là thế, chỉ trong chớp mắt yêu ghét rõ ràng. Rượu thịt dọn lên. Nhưng hai đứa chẳng ai nuốt nổi bởi chuyện nghe rất đắng. Con trai chủ nhà vừa rót rượu vừa kể “em mới được ra tù hơn 3 tháng. Lý do chống người thi hành công vụ trong một lần vào rừng chặt cây về hầm than thì bị phát hiện”. Bảo “biết chặt cây, hầm than là sai nhưng ở đây không làm như vậy thì không biết làm gì để có ăn ngày ba bữa…”.

Bây giờ thì tôi đang hầu chuyện những người Đàng Hạ, tộc người bí hiểm và nhiều huyền thoại phủ quanh nhất Việt Nam trong một góc núi tận cùng của vịnh Vân Phong ở Khánh Hòa. Thời gian hình như đang quay ngược về những năm tháng nào đó xa xôi. Khi tộc người da đen, tóc quăn, mày rậm, ngươi vàng... không biết từ đâu tới chốn này lập làng riêng. Họ sống một cuộc sống không tích lũy, không ngày Tết; chết thì quấn chiếu đem chôn; trai gái ưng nhau thì cứ về ở với nhau không cần cưới hỏi. Họ ở sát chân sóng nhưng không biết đi biển, cũng không biết làm ruộng, nuôi gia súc, không có nghề thủ công. Họ chủ yếu sống bằng nghề hầm than!

Là đang kể chuyện cũ. Chứ người Đàng Hạ bây giờ đã cộng cư, “lai giống” với rất nhiều cư dân khác và chẳng có điều gì trong cuộc sống của chúng ta làm họ ngỡ ngàng, kể cả nghề đi biển. Nhưng không hiểu sao sau chừng ấy năm họ vẫn sống trong nghèo khó, xa lạ với thế giới quanh mình. Và cái hầm than đang tỏa khói rất đẹp đẽ trong nắng trưa ấy không phải là chứng tích kỷ niệm mà là nguồn sống gần như duy nhất của không ít gia đình dù “hầm khoảng 9 ngày thì cho ra một mẻ than bán khoảng 1,5 triệu đồng”. Và củi ở đâu ra? “Thì trên núi hái xuống” cùng ánh mắt của những người Đàng Hạ thoáng chút lo sợ. Rồi chợt ai đó giả lả cười nói: “Của một ông chú ở bên Đầm ông thấy thương nên mang qua cho, nhiều lắm, hầm mãi không hết…”.

“Ông chú bên Đầm” chắc là một ý niệm. Và hình như lò hầm than của người Đàng Hạ ở xứ trầm hương công khai, to bè, khói tỏa thanh thoát chứ không đục khói, be bé, lén lút ngụy trang như ở miền biển Cà Mau năm nào tôi gặp. Nhưng những phận người sau những hầm than ấy thì ở đâu trên đất nước mình khói bay lên một màu nghèo cụt cùi…