Theo dự báo của Tổng cục Du lịch Việt Nam, đến năm 2020, nước ta cần ít nhất khoảng 2 triệu lao động trực tiếp tại những cơ sở dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp không khói lại thể hiện rõ trong việc chưa đáp ứng đủ khả năng cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Ông Nguyễn Xuân Thành - GĐ Phát triển Trường ĐH Fulbright Việt Nam cho biết, trong nền kinh tế, du lịch hiện là một trong những ngành có năng suất lao động kém và kèm theo đó là tốc độ tăng trưởng năng suất thấp, thậm chí Việt Nam hiện chỉ bằng 40 – 45% so với Malaysia và Thái Lan.

Nhân lực của ngành Du lịch Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng. Ảnh: T. L.
Nhân lực của ngành Du lịch Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng. Ảnh: T. L.

Trong khi yêu cầu của thị trường du lịch tập trung vào các mặt chính bao gồm kiến thức tổng quát; ngoại ngữ; kỹ năng mềm; tính chuyên nghiệp và thái độ làm việc; hay đào tạo chất lượng đối với các kỹ năng chuyên môn cao v.v… còn Việt Nam dường như lại thiếu hụt tất cả các mặt trên.   

Những bất cập trong việc đào tạo nguồn nhân lực của ngành  du lịch Việt Nam cũng được ông Nguyễn Xuân Thành chỉ ra rằng, việc đào tạo bậc đại học đi vào các phân ngành hẹp, thiên về nghiệp vụ; thiếu gắn kết giữa chương trình đào tạo với tiêu chuẩn nghề du lịch (VTOS) hay thiếu đào tạo thực tiễn (tích hợp học và làm). Một thực tế cho thấy rằng, nhân lực ngành du lịch Việt Nam dù cho được tạo chính quy từ các trường đại học, cao đẳng nhưng khi tuyển dụng vào vị trí làm việc đều không có kỹ năng nghiệp vụ, vì vậy, các doanh nghiệp phải mất thêm thời gian lẫn chi phí để đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung những “mặt khuyết”.    

Kém ngoại ngữ, yếu kiến thức văn hóa lịch sử cũng là một trong những rào cản khiến ngành Du lịch Việt Nam khó thu hút khách quốc tế. Ảnh; T. L.
Kém ngoại ngữ, yếu kiến thức văn hóa lịch sử cũng là một trong những rào cản khiến ngành Du lịch Việt Nam khó thu hút khách quốc tế. Ảnh; T. L.

Sự lúng túng của các sinh viên ra trường, một phầ là bởi giữa học lý thuyết và thực hành lại có sự chênh lệch khá lớn. Nếu như tại nhiều trường quốc tế, tỉ lệ giữa học lý và thực hành là 50 – 50 thì tại Việt Nam, lại quá ít ỏi với 2 kỳ thực tập trong 4 tháng. Việc không nhất quán này dẫn đến có hơn 90% sinh viên ngành du lịch thiếu đi những kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ yếu, hổng kiến thức văn hóa và lịch sử cũng là những nguyên nhân quan trọng khiến nhân viên trong ngành du lịch khó tiếp cận, quảng bá hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

TS. Nguyễn Văn Lưu thẳng thắn nhìn nhận, du lịch là ngành dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực du lịch. Do đó, đòi hỏi nguồn nhân lực du lịch phải được đào tạo và bồi dưỡng qua các lớp nghiệp vụ, chuyên môn dài hạn và ngắn hạn trong đó, phải trực tiếp tham dự các khóa huấn luyện về kỹ năng nghề, nghiệp vụ về lễ tân, nhà hàng, bar, bếp v.v… “Nhu cầu khách du lịch ngày một cao, vì vậy nhân lực làm việc trong ngành du lịch phải thưởng xuyên trao đổi tri thức, nâng cao kỹ năng tay nghề, rèn dũa về đạo đức nghề nghiệp, thái độ ứng xử để hoàn thành tốt yêu cầu ngày một cao của xã hội” – ông Nguyễn Văn Lưu nói.

 Hướng dẫn viên du lịch đang là một trong những nghề quan trọng đối với của ngành Du lịch Việt Nam. 
 Hướng dẫn viên du lịch đang là một trong những nghề quan trọng đối với của ngành Du lịch Việt Nam. 

Còn ông Nguyễn Xuân Thành lại nhấn mạnh, cần chuyển đổi một cách có hệ thống vào lực lượng lao động du lịch dựa trên các tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam (VTOS); đồng thời mở cho các sinh viên với nền tảng kiến thức cơ bản từ nhiều ngành khác nhau. Theo đó, tăng cường các kỹ năng và kiến thức thiết thực cho các nhóm ngành du lịch cụ thể và tiếp thu kinh nghiệm làm việc thực tiễn dưới sự hướng dẫn của những chuyên gia/ cố vấn trong ngành…