Sau phiên họp giao ban trực tuyến với UBND tỉnh Quảng Nam, ngay ngày làm việc đầu tiên trong năm mới Đinh Dậu, lãnh đạo huyện Tây Giang đã đi về cơ sở. Các xã vùng núi cao, biên giới Axan, Tr'hy... là điểm đến đoàn công tác huyện chọn xuất hành. Chúng tôi đã theo chân họ.

Bình minh trên đỉnh mây ngàn

Buổi sáng mùa xuân, không khí ở thị trấn huyện lỵ Tây Giang chẳng khác mấy so với Sa Pa hay Đà Lạt. Sương sớm phủ mờ các ngả đường. Núi rừng trập trùng ẩn hiện dưới tầng tầng lớp lớp mây trắng, giống như chốn bồng lai. Trong cái lạnh se sắt dưới 13 độ, đi bộ dưới tán những cây hoa đào rừng vừa nở bung, những hàng thông lặng im nghe vi vu gió, mới thấy không khí xuân thật sự tràn ngập ở chốn núi rừng này.

Bí thư huyện Tây Giang, Bh'riu Liếc thúc giục mọi người ăn sáng nhanh để kịp... đón bình minh trên đỉnh núi Quế. Ông Liếc - người được mệnh danh là "Chủ tịch huyện đi bộ nhiều nhất nước" với thành tích đi bộ đến 70 làng, bản (mỗi làng cách xa nhau 20 - 30km) trong vòng 6 tháng liên tiếp, ở thời điểm 2003 - 2006, khi Tây Giang chưa có đường ô tô, xe máy đến hết các làng - lúc nào cũng tiết kiệm thời gian. Dù bây giờ chỉ mất hơn 1 tiếng phóng ôtô là đến đỉnh Quế chứ không mất 2-3 ngày đi bộ đường rừng như xưa.

"Với độ cao 1.369m so mực nước biển, nhưng đỉnh Quế chưa phải là cứ điểm cao của Tây Giang. Gần đó, đỉnh Đỗ Quyên cao hơn 1.500m, nghĩa là xấp xỉ với Đà Lạt. Ngoài độ cao, khí hậu lý tưởng, thì Tây Giang còn hấp dẫn tuyệt đối bởi rừng núi còn nguyên sơ. Đặc biệt với rừng Pơ Mu với hàng ngàn cây cổ thụ mới vừa phát hiện... đang mở ra cơ hội làm du lịch sinh thái cho địa phương". Ông Lê Hoàng Linh - Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Giang tranh thủ giới thiệu trong lúc dừng chân, vọng cảnh. Ông Linh nói, sau khi hoàn tất con đường nhựa nối trung tâm huyện lên các xã vùng cao, đến Tr'hy, thì đỉnh núi Quế trở thành điểm dừng chân ngắm cảnh của bất kỳ ai qua đây. Đỉnh Quế là một đoạn đường dài trên đỉnh đèo cao, ngăn cách khu vực phía đông và tây của huyện. Từ đây, có thể thoả mãn tầm mắt giữa trùng điệp rừng núi tứ phía trên đỉnh Trường Sơn. Nơi ngắm mặt trời mọc hay lặn đều cũng thấy chui lên từ mây ngàn. Khí hậu quanh năm ôn hòa. Chính vì vậy, từ năm 2014, anh Clâu Hạnh, một người dân gốc Tr'hy đã xây dựng một trạm dừng chân với 8 phòng nghỉ, nhà hàng để phục vụ du khách. Tuy chưa được quảng bá, giới thiệu rộng rãi, song khách du lịch thập phương, đặc biệt là các phượt thủ lứa tuổi sinh viên, tây balô kéo đến rất đông, hứa hẹn nhiều cơ hội làm dịch vụ, du lịch sinh thái cho người dân địa phương trong tương lai...

"Rừng còn, Tây Giang phát triển. Rừng mất, Tây Giang suy tàn". Đấy là phương châm, định hướng quản lý xã hội của lãnh đạo Tây Giang

Tôi chợt nhận ra ý tưởng "dừng chân ngắm bình minh trên đỉnh Quế" mà ông Bh'riu Liếc gợi ý từ tinh mơ sáng nay là cũng có ý. Bởi ngay trên phòng lễ tân nhà khách UBND huyện, lãnh đạo huyện đã chủ ý trưng bày các sản vật địa phương như sâm ba kích, rượu ngâm đẳng sâm, tiêu rừng, mận núi... để vừa giúp dân bán hàng, vừa quảng bá cho du lịch sinh thái. Ngay lời mời những nhà báo chúng tôi tham gia một cuộc họp, vận động bà con làng A Banh, xã Tr'hy để giải tỏa nơi ở cũ, dồn về làng mới, sắp xếp theo kiểu truyền thống, cũng không ngoài mục đích cho chúng tôi tận mắt chứng kiến cách làm vì mục tiêu phát triển bền vững, biến Tây Giang thành huyện sinh thái trong tương lai. Bây giờ, tôi mới để ý kỹ, thấy dọc ven đường liên xã, thôn đều được trồng mới 2 hàng thông Caribe như một hình thức tạo dấu ấn riêng. Tại ngã rẽ các con đường dẫn vào làng, dù chỉ mới là lối mòn giữa rừng núi, song đều được lắp bảng chỉ đường cẩn thận như bảng tên đường phố. Lãnh đạo huyện Tây Giang - những người con của đồng bào Cơ Tu bản địa đã có cách yêu, hành động hết sức tinh tế, cụ thể đến từng chi tiết, vì quê hương của mình.

Dời làng, giải tỏa... 0 đồng

Quá trung tâm xã Tr'hy chừng 2km, thêm chừng cây số đường đất gập ghềnh, chúng tôi phải dừng chân bên suối để đi bộ vào làng A Banh 2. Con suối mùa xuân đã thay màu xanh biếc, hai bên bờ tre lồ ô mọc thẳng đứng, làng A Banh chênh vênh trên nửa lưng đồi, quay mặt ra con suối, đẹp như một bức tranh thủy mặc. "Yên bình là thế, đẹp là thế, vì sao phải vận động dân ra mặt bằng mới để xây dựng lại làng?"- tôi buột miệng hỏi ông Bh'riu Liếc như một sự phản đối. Ông Liếc không phủ nhận, chỉ giải thích rằng, làng A Banh 2 đẹp thật, nhưng chúng ta phải đi bộ gần 2km mới vào đến. Mùa xuân đẹp thế đấy, nhưng mưa chỉ vài cơn là làng bị cô lập. Mùa lũ không thể tiếp viện được cho dân trong này. Chưa kể bà con bị ốm đau, tai nạn thì rất khó đến bệnh xá cấp cứu. 53 hộ dân với hơn 200 người hiện dựng nhà ven suối, trên đồi, không quây quần được quanh nhà gươil như làng truyền thống của người Cơ Tu.

Nếu như làng của người Kinh có đình, thì ngươi Cơ Tu chính là gươil. Gươil là nơi hội họp, sinh hoạt cộng đồng, tổ chức việc làng... như một đơn vị hành chính nhà nước cấp thấp nhất. Ngoài ra, gươil còn là nơi sinh hoạt văn hóa, giáo dục con cháu, lưu giữ những vật hiến tế, cúng bái, nơi tiến hành các nghi lễ truyền thống. Đôi khi cũng là "tòa" để xem xét, xử lý các tranh tụng dân sự trong làng. Nói chung gươil là nơi thiêng liêng nhất, tập trung linh hồn sống của một làng. Người vi phạm luật tục, có tội không dám nói dối khi bị đem ra gươil xét hỏi... 

Những nét văn hóa truyền thống đã được chọn lọc, bảo tồn theo hướng nhân văn, hướng thiện. Vì vậy, Tây Giang đã bỏ tục đâm trâu, chỉ giữ lễ hội ăn trâu 
Những nét văn hóa truyền thống đã được chọn lọc, bảo tồn theo hướng nhân văn, hướng thiện. Vì vậy, Tây Giang đã bỏ tục đâm trâu, chỉ giữ lễ hội ăn trâu 

Nhưng do chiến tranh, loạn ly, do thói quen du canh, đi theo con đất mới làm rẫy, nhiều làng Cơ Tu đã không còn giữ được không gian truyền thống của làng, ở phân tán. Không giữ được làng truyền thống là có nguy cơ mất bản sắc văn hóa và không giáo dục được con cháu. Bởi vậy, chủ trương huyện là phải lập lại toàn bộ mặt bằng, xây dựng lại theo truyền thống cho 92 làng hiện có của người Cơ Tu Tây Giang. Đến nay, đã lập lại được 70 làng mới. Tất cả đều gần đường giao thông, ô tô đến tận gươil. Làng cũng gần trung tâm y tế, đồn biên phòng, đường dây điện, nguồn nước và đặc biệt là gần các trường học. Ông Bh'riu Liếc đã mất khá nhiều thời gian để giải thích cho chúng tôi. Và đấy cũng chính là cách mà ông đã nói với lũ làng, với bà con Cơ Tu quê hương mình. Việc vận động bà con bỏ nơi ở cũ, phân tán, tập trung ra những khu làng mới, không chỉ đỡ tốn kém rất nhiều đến nguồn kinh phí mà Nhà nước lẽ ra phải chi để xây dựng "đường, điện, trường, trạm" đến với họ, mà chính quyền cũng đỡ tốn kinh phí trong vận hành, quản lý nhà nước tại địa phương. Chưa kể, cho đến thời điểm này, 100% trên tổng số hơn 70 làng tái lập mà lãnh đạo huyện Tây Giang vận động đều được bà con ủng hộ miễn phí. Nghĩa là toàn bộ đất ruộng, nương rẫy, rừng trồng... của dân đều hiến, không nhận tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi để san lấp mặt bằng, tái bố trí dân cư. Ngay việc tháo dỡ nhà cũ, di dời đến làng mới, người dân cũng không đòi hỏi hỗ trợ mà tự bỏ công giúp nhau dời nhà. Nhiều hộ thậm chí bỏ nhà cũ, ra làng mới dựng lại nhà, nhưng cũng không hề đòi Nhà nước đền bù. Vì vậy, mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở Tây Giang đang rất khả quan.

Buổi sáng đầu năm, làng A Banh 2 tiếp đoàn cán bộ huyện bằng những câu chuyện thăm hỏi rôm rả, tiếng cười nói, vỗ tay vang cả một góc rừng. Tôi không hiểu gì, bởi họ nói với nhau bằng tiếng Cơ Tu. Nhưng nhìn những nét mặt rạng rỡ, những cái ôm thắm thiết giữa dân làng và cán bộ huyện, cho thấy cuộc vận động đã thành công với sự thống nhất cao. Bữa trưa  với canh rau rừng, ếch suối, thịt heo rừng, sắn xào và rượu tà vạt, từng món đó là từng tấm lòng đầy trân quý của các gia đình trong làng mang lên gươil đãi khách. Ngoài rừng, nắng vàng ươm như mật ong dát qua rặng núi, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: "Đất là nơi anh đến trường/nước là nơi em tắm/ Đất nước là nơi ta hò hẹn...". Vâng, chỉ cần yêu mến làng quê, yêu mến nhau trong mỗi ngôi làng như đồng bào Cơ Tu, tất sẽ có tình yêu đất nước nồng nàn, thắm thiết, vững bền nhất, như cách "lấy làng làm gốc" của người Cơ Tu hôm nay.