Nghệ nhân cuối cùng

Làng gốm Quế An, hay còn được gọi là làng Lò Nồi đã có lịch sử làm gốm cách đây hàng trăm năm. Cho đến nay, không một ai biết rõ người nào đã đem cái nghề gốm về làng. Nhưng hiện nay, tại làng gốm Quế An, chỉ còn độc nhất một người vẫn hằng ngày cặm cụi bên chiếc bàn xoay thủ công với lòng yêu nghề.

Bước vào khoảng sân nhà của bà Võ Thị Sương (52 tuổi, ở thôn Thắng Tây, xã Quế An, huyện Quế Sơn), hình ảnh những mẻ gốm đã thành hình chờ đem đi nung vẫn còn nồng mùi đất sét. Những cái niêu, cái ấm… tất cả đều được đôi bàn tay của người phụ nữ đã quá nửa đời người nặn tạo.

Hàng chục chiếc gốm đất khoe sắc vàng ươm của đất sét dưới nền nắng mùa hè Quế Sơn. Ảnh: Trường An 
Hàng chục chiếc gốm đất khoe sắc vàng ươm của đất sét dưới nền nắng mùa hè Quế Sơn. Ảnh: Trường An 

Gia đình bà Sương có truyền thống nhiều thế hệ cùng nối tiếp nhau làm gốm. Theo lời kể của bà Sương, ở thời của mẹ chồng bà, lúc đó trong làng có gần 100 hộ làm gốm. Giai đoạn sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, bà con sinh sống tại làng Lò Nồi này thu nhập chủ yếu từ những cái chum, cái nồi, niêu đất sét này.

“Từ năm 1990 trở đi, ở đây hầu như mọi nhà bỏ hết cái nghề này. Chỉ còn lát đát vài ba hộ vẫn ráng theo. Sản phẩm làm ra bao nhiêu thì đem bỏ sỉ cho các hộ buôn bán ở chợ Quế Sơn, còn một số ít thì đem phân phối ở các huyện lân cận như Nông Sơn, Hiệp Đức, TP.Tam Kỳ… Từ hồi nhỏ, ngồi nhìn theo ông bà mình làm thì tự mò mẫm tập nặn đất rồi dần nhuần nhuyễn …” –bà Sương nhớ lại.

Lò gạch tự đắp đã cũ kỹ theo năm tháng. Ảnh: Trường An
Lò gạch tự đắp đã cũ kỹ theo năm tháng. Ảnh: Trường An

Hiện nay, những vị cao niên trong làng không còn đủ sức để làm gốm như trước. Trước đây, mẹ chồng của bà Sương là “thợ chính” của cả nhà. Dần dà, đôi bàn tay của cụ cũng đã mỏi và đôi mắt không còn tường nên đành nhường lại cho các con nối nghiệp.

Nhọc nhằn giữ lửa nghề…

Giờ đây, trong làng chỉ còn một mình bà Sương với nghề gốm truyền thống của làng Lò Nồi. Bà Sương kể, những thế hệ trước bà, có rất nhiều người biết làm gốm nhưng đến nay người thì đã mất, người thì đau không ngồi được. Còn với lớp trẻ, cục đất sét đã không có đủ sức hấp dẫn để cuốn hút họ.

Trung bình một năm, gia đình bà Sương cho ra lò 10.000 sản phẩm để phục vụ cho người dân trong khu vực và các khách ở xa đặt. Với giá thành mỗi sản phẩm gốm là 20.000 đồng, hầu hết đó là những vật dụng thường ngày gắn liền với cuộc sống của người dân nông thôn.

Dụng cụ để tạo nên được những sản phẩm như  ấm nước, cái nồi, chiếc niêu… rất đơn giản. Một cái bàn xoay và lò nung bằng gạch đã qua bao đời, mọi công đoạn không có sự can thiệp của máy móc hiện đại.

Những sản phẩm gốm trong quá trình làm khô nằm ngay ngắn trên sân nhà bà Sương. Ảnh: Trường An
Những sản phẩm gốm trong quá trình làm khô nằm ngay ngắn trên sân nhà bà Sương. Ảnh: Trường An
Những sản phẩm gốm trong quá trình làm khô nằm ngay ngắn trên sân nhà bà Sương. Ảnh: Trường An

“Nghề làm gốm này chỉ làm thuận tiện vào mùa khô, còn mùa mưa bão làm khó khăn lắm, không có nắng để phơi nên phải mang vào xông cho khô rồi mới nung được. Cả năm, đôi khi chỉ làm được cỡ 9, 10 tháng thôi” - bà Sương tâm sự.

Lòng nhiệt huyết, tình yêu nghề, mong muốn duy trì được cái nghề truyền thống của gia đình được người phụ nữ nông thôn này gởi gắm trọn vào từng sản phẩm. Cách đây vài năm, những sản phẩm gốm của bà Sương làm nên còn được bảo tàng Quảng Nam trưng bày, lưu  giữ.