Dấu ấn Thuận Hóa còn lưu ở khu vực Kim Long là của các chúa Nguyễn, nhất là chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, ở ngôi từ  năm 1635 đến năm 1648, và cũng là nhân vật đã quyết định dời thủ phủ từ Phước Yên (thuộc huyện Quảng Điền, TT-Huế) vào Kim Long, xây dựng trung tâm hành chính-quân sự của xứ Đàng Trong sát bên bờ sông Hương.

Giáo sĩ A. de Rhodes trong các văn thư của ông nhiều lần gọi Kim Long là “một thành phố lớn” (une grande ville) và gọi khu vực thủ phủ nhà chúa là “kẻ Huế” (Ke Hue).  Có thể xem địa danh “Huế” xuất hiện từ đây?

sông Hương đoạn chảy qua Kim Long
sông Hương đoạn chảy qua Kim Long

Quãng sông Hương chảy qua Kim Long đã từng diễn ra những cuộc thao diễn thủy binh dưới thời chúa Thượng. Sử còn ghi tháng 2 năm 1645 chúa đích thân chỉ huy hai mươi chiến thuyền sơn son thếp vàng với trên hai nghìn quan quân thao diễn trên sông suốt ba ngày đêm để 50 sĩ quan hải quân Tây Ban Nha và bốn nữ tu sĩ Thiên chúa giáo, cùng binh lính tháp tùng (bị đắm tàu ở biển Quảng Nam, được chúa Thượng cứu)... hiểu tường tận vì sao hạm đội Hà Lan hùng mạnh đã bị nhà chúa đánh tan tác trên biển Đông năm trước, 1644. 

Bây giờ, từ sông Hương nhìn lên Kim Long đã thấy thoáng hơn nhiều sau khi giải tỏa dãy nhà tạm của hàng trăm hộ dân tản cư mọc lên từ năm 1968. Mặt đường đang được nâng cấp, mở rộng. Nhưng việc mở rộng đường cần phải thận trọng, có ý kiến của nhà quản lý văn hóa.

Trên con đường ven sông này, từ Hương Hồ xuống cầu Giả Viên, gần mười cây số, có mật độ dày đặc di tích lịch sử và kiến trúc cổ. Trong chuyến đi này, tôi đã trông thấy hai chiếc cổng cổ rất đẹp gần chợ Kim Long bị đường ăn mất, chủ nhân đã xây lại cổng mới nhưng chẳng có giá trị thẩm mỹ gì.

Nhà vườn An Hiên nhìn ra bờ sông Hương đoạn qua Kim Long
Nhà vườn An Hiên nhìn ra bờ sông Hương đoạn qua Kim Long

Nói mật độ di tích dày đặc thật không ngoa. Chỉ một cung đường ngắn mà du khách có thể ăn bánh nậm, bánh bèo trong khuôn viên một kiến trúc cổ gần như nguyên vẹn:  Nam châu hội quán –nơi dành cho các quan viên triều Nguyễn người Nam bộ đón tiếp thân nhân từ trong quê ra kinh thăm thú –rồi kéo nhau đi uống trà dưới bóng cây xanh trong sân ngôi nhà cổ kính của Tả quân Lê Văn Duyệt.

Ở nước ta, duy nhất Huế mới có được một không gian du lịch cao cấp đến thế. Chỉ tiếc là hệ thống dinh thự của các chúa Nguyễn ở xóm Thượng Dinh chủ yếu xây dựng bằng chất liệu gỗ nên bây giờ không còn lại gì ngoài dấu vết những bức tường thành bằng đá chạy dài qua các khu vường lưu niên.

Với hai đời chúa, Nguyễn Phúc Lan và Nguyễn Phúc Tần, Kim Long đóng vai trò thủ phủ Đàng Trong được 51 năm (1635-1687), rồi nhường vị trí này cho một Phú Xuân “địa lợi” hơn, cách Kim Long chừng ba cây số về phía hạ lưu sông Hương, mở đầu một thời kỳ phát triển mới dưới thời các chúa Nguyễn và cuối cùng trở thành “Kinh sư” của các vua triều Nguyễn, kể từ Gia Long.

Trung tâm chính trị nhà Nguyễn chủ yếu đóng trên “Vương đảo” thuộc làng Phú Xuân, đảo được tạo thành bởi sự bao bọc của hai sông: sông Hương trước mặt, sông Kim Long sau lưng. Và sông Hương tiếp tục là yếu tố quý giá đáp ứng các tiêu chí dịch lý, phong thủy trong nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch truyền thống phương Đông.

Từ ngai vàng nhìn ra phía nam là minh đường sông Hương, tiền án núi Ngự, tả thanh long Cồn Hến, hữu bạch hổ Dã Viên chầu phục hai bên. Năm 1776, Lê Quý Đôn vào đất Thuận Hóa, đã dành những trang bút ký đẹp nhất trong Phủ Biên tạp lục để mô tả một đô thành Phú Xuân phồn thịnh, hoa lệ sau công cuộc “đổi mới” của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát.

Cồn Hến - Tả Thanh Long của Kinh thành Huế
Cồn Hến - Tả Thanh Long của Kinh thành Huế

Trong đó, ông làm nổi bật hình ảnh sông Hương như là linh hồn của mọi hướng phát triển, từ yếu tố thành đến yếu tố thị, từ Kim Long đến cảng Thanh Hà. Tuy nhiên, những gì người đương thời sở hữu, những gì đang trở thành di sản kiến trúc nhân loại, chủ yếu là thành tựu của công cuộc kiến thiết kinh thành Huế mà “kiến trúc sư trưởng” là Gia Long và được hoàn thiện bởi Minh Mạng.

Và tất cả đã được thắp sáng lên, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, qua những festival Huế. Festival nào tôi cũng trở về Huế, chưa lỡ hẹn lần nào. Có điều tôi chỉ lưu luyến một không gian đại nội về khuya, khi các dàn nhạc đã nhường sân khấu cho giun dế, khi khách dự lễ hội đã rút lui, khi chỉ còn lại ánh sáng li ti của hàng nghìn bát đèn sáp rải rắc lên các lối đi sâu hút...

 
 

Khi ấy, dòng chảy 700 năm lịch sử có cơ hội thì thầm những câu chuyện dâu bể phong rêu, những giấc mộng kinh sư bi tráng... Và lần nào tôi cũng dành nhiều thời gian cho sông Hương, không chỉ vì lần nào sông Hương cũng là một trong những sân khấu chính của festival Huế. Cả khi không có festival đã vậy rồi. Thời gian về thăm nhà không bằng thời gian ngồi uống bia ngắm dòng sông nhớ.

Đêm khai mạc Festival năm nay tôi trống rỗng lạ lùng. Festival đầu tiên không chen lấn chụp ảnh, không phỏng vấn ai, không hớt hải viết bài trước áp lực thời gian của tòa soạn, không chi hết. Thỉnh thoảng cũng nên làm kẻ ốm để được thấy mình khác đi một chút...

Và tôi xuống con đò nhỏ đã hẹn, lòng thành thả hoa đăng cầu phúc cho dòng sông. Đò mỗi lúc mỗi xa khu trung tâm rực rỡ pháo hoa. Cồn Hến hiện ra trong sương mỏng. Doi đất này một lúc mang hai danh phận.

Khi là cô hến ngậm bùn đáy sông khi là nàng rồng xanh vờn lượn bên hoàng thành. 700 năm từ ngày công chúa Huyền Trân chấp nhận cuộc hôn nhân lịch sử để xứ Thuận Hóa ra đời, sông Hương đã chứng kiến bao cuộc thay đổi danh phận như thế? 

Tôi thả xuống sông cánh hoa đăng còn sót...