Chợt nhớ cũng ở khúc sông này, dưới chân chùa Linh Mụ, lần đầu tiên trong đời tôi được tham dự một lễ Phóng đăng nhân ngày Phật đản. Thú thật là tôi đã báng bổ thần thánh, đã bụm miệng cười khúc khích một mình khi vị trụ trì chùa Từ Hiếu làm lễ quy y cho các thuỷ tộc sắp được phóng sinh, để khi mãn kiếp được hoá thân làm người, mong nhờ nhân duyên mà biết được Phật pháp.

 
 

Nhưng đó cũng lần đầu tiên trong đời, không hiểu sao tôi lại hân hoan khi được tận tay giải thoát một thùng cá tôm, như chính mình được giải thoát.

Chừng không ngủ được, dù tiếng chuông đã dứt từ lâu, ông bạn già Hồ Tấn Phan rủ rỉ: “Việt Nam và thế giới ít có con sông nào lại có một đời sống văn hoá, tâm linh phong phú, đa dạng và đậm chất cung đình như dòng Hương. Chính sử gần như không chép, những bài du ký của các học giả trong, ngoài nước thì miêu tả cũng có hạn.

Nhưng qua các kỳ festival Huế, nhìn đoàn Ngự đạo xuất cung và hồi cung - lên, về tế trời ở đàn Nam Giao, cứ hình dung cách đây mấy trăm năm, dưới thời Gia Long, Minh Mạng, khi mấy con voi cùng lúc bơi qua sông Hương từ bến Tượng, cùng đoàn Ngự đạo xuất cung qua sông trên một chiếc cầu nổi bằng hàng chục chiếc thuyền ghép lại để lên Trai Cung, chắc chắn đó sẽ là một sự kiện, một cơ hội thụ hưởng văn hoá lớn đối với hàng vạn dân chúng và quan viên, chức sắc sống dọc hai bên bờ sông và cả kinh thành.

Ngoài đại lễ Nam Giao hàng năm, dòng Hương còn là chứng nhân, từng lưu dấu hình ảnh các đoàn Ngự đạo của vua tuần hạnh, hoặc những cuộc tập của Thuỷ sư với quy mô lớn… nhưng tất cả đều không lớn và quan trọng bằng đám tang của các vị Hoàng đế. Những đoàn thuyền ninh lăng nối đuôi nhau lên sơn lăng là một trong những đại lễ quan trọng nhất của triều đình. Nó có ảnh hưởng đến không những cuộc sống của người dân kinh thành Huế mà còn với cả nước”.

Cồn Dã Viên - hữu bạch hổ của Kinh thành Huế
Cồn Dã Viên - hữu bạch hổ của Kinh thành Huế
      

Trong những sinh hoạt, lễ hội dưới thời các vua Nguyễn có liên quan đến sông Hương, có lẽ những sinh hoạt trên cồn Dã Viên là một trong những dấu tích hiếm hoi còn sót lại. Ngoài danh phận “hổ phục” của kinh thành theo thuật phong thuỷ, dưới thời Tự Đức, cồn Dã Viên là một vườn ngự - nơi vua nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, thậm chí cả tổ chức… đấu hổ!

Mới đây, khi một doanh nghiệp trình dự án lên UBND tỉnh Thừa Thiên -Huế đề xuất đầu tư xây dựng ở đây một cụm khách sạn 5 sao, và bị báo chí, người dân kịch liệt phản đối, tôi mới có dịp đặt chân lên “Dữ Dã Viên”.

Và phải mất gần một ngày trời để tìm ra những di tích hiện còn trên khu đất hoang gồm: Một tấm đá thanh có khắc 3 chữ “Dữ Dã Viên”, (dựng tháng 7.1868), và nền móng một toà  hành cung cổ đã bị hư hỏng hoàn toàn.

Khi cồn Dã Viên sắp bị biến thành khách sạn, mới thấy được cái tâm và tầm nhìn xa của KTS Nguyễn Trọng Huấn, cách đây hơn chục năm, ông đã đề xuất chính quyền địa phương nên cải tạo cồn Dã Viên thành một khu vườn và dựng tượng Huyền Trân công chúa ở để đón khách tham quan.

Rồi Huyền Trân công chúa cũng đã được dựng tượng, nhưng dự án lãng mạn của ông sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Bởi người ta đã “nhốt” công chúa vào “rừng sâu”, nơi có di tích lịch sử cách mạng Chín Hầm, gợi nhớ về một thời đau thương của đất nước.  

 
 

Cách thuyền chúng tôi đậu lên chừng 200m, dưới chân điện Huệ Nam hình như đang có chuyện gì đó mà vẳng nghe tiếng í ới gọi đò. Tâm nói vu vơ: “Em chưa bao giờ nghe được một câu mái nhì, mái đẩy từ một cô chèo thuyền nào trên sông Hương ngoài nghe kể và trên ti vi. Có lần đi nghe ca Huế, em thấy người ta hò gượng gạo như như kiểu bị… quan trên thúc ép. Giờ mà nghe được một câu kiểu “đò về Đông Ba, đò qua đập Đá…” thì khắc khoải, tâm trạng phải biết!”.

Tôi cũng chẳng khác gì Tâm bởi thời của tôi, trên sông Hương đã có đến 7 cây cầu nên những bến đò ngang nổi tiếng một thời như Thừa Phủ, Thương Bạc, Toà Khâm… chỉ còn là hoài niệm. Còn chăng là những chuyến đò dọc, nhưng bây giờ còn ai chèo tay nữa. Sức lao động đã được giải phóng, thời buổi kinh tế thị trường cũng chẳng cô gái nào có thời gian và hứng thú để tức cảnh sinh tình, ngân nga tỏ lòng trên sông nước.

Ông bạn già của tôi thở dài: “Ngó rứa thôi những chuyến đò dọc, đò ngang, những câu mái chèo, mái đẩy một thời đã tạo ra không biết bao nhiêu cuộc tình thơ mộng của những lữ khách trên bến và các cô chèo đò dưới thuyền. Đời tui đã nhiều lần chứng kiến cảnh chàng trai đi dọc trên bờ sông Hương, lần theo con đò của cô gái dưới sông để hò đối đáp, tỏ tình, hờn dỗi, sung sướng… từ bến Toà Khâm cho đến Ngã ba Sình. Rồi cũng chỉ là bèo nước gặp nhau, nhưng kỷ niệm, có khi là vết thương lòng còn mãi cho đến tận bây giờ…”.

Ông lại thở dài. Cũng lạ, chuyện người, chuyện sông mà ông kể cứ như là chuyện của mình.

Chuyện vãn lại nằm thao thức. Ông chủ thuyền im lặng từ đầu đêm bây giờ mới lên tiếng: “Khi chừ tui nghe các anh toàn bàn chuyện cung đình, múa hát, lễ lượt, răng không thấy bàn đến chuyện hàng ngàn hộ dân vạn đò đang sống trên sông Hương như tui? Bầy tui đây là dân đen, nhưng cũng là một phần của lịch sử sông Hương đó nghe !”.

Đúng rồi, dân vạn đò có lịch sử khai sinh, có ngôn ngữ, miếu thờ Thành hoàng và một đời sống văn hoá, tín ngưỡng riêng, mang đậm dấu ấn sông nước. Dân vạn đò trên sông Hương sống theo vạn (cụm dân cư), mỗi vạn làm một nghề khác nhau khác nhau như đánh cá, khai thác cát sạn, làm thê, lặn cổ vật, xe ôm, xích lô…

Có lẽ gia đình ông Thao – chủ đò tôi thuê cùng với hơn 2000 hộ vạn đò khác trên sông Hương là những cư dân duy nhất trên thế gian này khi được hỏi về tổ tiên của mình đều có chung câu trả lời là “không biết từ mô tới”. “Sinh ra từ sông, úp mặt vào sông” - một nhà thơ vạn đò chính hiệu bạn tôi đã viết về dòng tộc mình như thế.

 
 

Họ là một phần làm nên lịch sử và văn hoá của sông Hương, nhưng cũng chính họ là một vết thương lòng, là nhân tố góp phần vào việc “phá” sông sông Hương bởi sự nghèo túng, rách nát, thất học và khai thác cát sạn trái phép trước sự bất lực của chính quyền địa phương. Không ai dám hình dung sông Hương một ngày không còn vạn đò sẽ như thế nào, và cũng không ai dám hình dung cứ kéo dài đời sống vạn đò như hiện nay thì sông Hương sẽ như thế nào!

Tờ mờ sớm, trời bỗng dưng đổ mưa. Bé Thương – con ông chủ đò, 13 tuổi, đang là học sinh của một lớp xoá mù, vùng dậy bưng chậu xoài còi cọc để trước mui chiếc thuyền vào trong trú mưa: “Tự tay em trồng đấy. Nếu được lên bờ, chắc chắn nó sẽ lớn nhanh hơn” - Thương nói. Mẹ em ngồi ở sau bếp đang đun nước, mắt ngước nhìn lên tấm giấy khen của Thương dán trân trọng trên trần thuyền, bỗng hát một câu không thể nào buồn hơn, rằng: “Cha mẹ chài lưới bên sông. Đứa con thi đậu làm ông trên bờ”.