Những “tổ người” lặng thinh với rừng Khộp

Nguyễn Hàng Tình |

Tôi buộc mình vào nó, cái miền rừng đặc biệt nhất ở Tây Nguyên. Nó kỳ lạ đến độ tôi phải suy tư, chứ không thể chỉ nhìn như bao vùng rừng khác. Cảm nó phải bằng trạng thái không định dạng nó mới đủ long lanh,  mỗi lúc mỗi khác, còn kể ra thì chỉ  có thể  bắt đầu bằng kiến trúc, thứ kiến trúc sinh ra từ rừng, giữa buổi đất nước tôi đang trong con sóng thần của bê tông, “đô thị hóa”, và có thể là hỗn độn hơn thế nữa…  

Đây là vùng đất giao thương đầu tiên, lâu đời và duy nhất trên miền Thượng này ở Đông Dương. Nghĩa là khi Tây Nguyên còn là xứ của Pơtao Pui (Hỏa xá) và Pơtao Ia (Thủy xá), trước khi người Pháp có mặt và đặt cơ sở hành chính vào cuối thế kỷ XIX.

Pơtao dù là biểu tượng của xã hội bán khai thần quyền lấy vai trò của Lửa (Pui) và Nước (Ia) làm đầu, cao thiêng nhất, nhưng tạm hiểu họ theo nghĩa thông thường mà các xã hội có Nhà nước rõ ràng gọi là Vua, Chúa, Chủ tịch, hay Tổng thống gì gì đó.

Kiến trúc miền sơn cước hiện đại nay nhưng không còn phân biệt giữa Lào, Ê Đê, M’Nông, J’rai. Ảnh: NHT
Kiến trúc miền sơn cước hiện đại nay nhưng không còn phân biệt giữa Lào, Ê Đê, M’Nông, J’rai. Ảnh: NHT

Nó là nơi giao thương bởi thời đó là vùng tập trung việc giao lưu, bán buôn nông, lâm thổ sản, muối, cá, đặc biệt là Voi duy nhất trên lãnh thổ, với sự tụ hội săn bắt, thuần dưỡng và cộng sinh thuận hòa của người M’Nông, Lào, Xiêm, Ê Đê, J’rai, Cambodia, Chăm…

Bởi chính đây là vùng đệm xưa của các quốc gia lân cận trên bán đảo Đông Dương, dù bao trùm lên địa không gian đó vẫn là rừng núi, sông nước.

Giao thương bằng voi

Điền dã thực tế và điều nghiên tư liệu đều cho thấy, thời đó các sắc dân bộ tộc bán khai ở đây thường giao thương bằng voi, và  thuyền. Mà đoạn hạ lưu của con sông Sêrepôk này là vùng sông nước rộng, thuận tiện cho đường thủy, thuyền, và hoạt động rất sôi động.

Sông Sêrepôk là con sông lớn chảy từ nóc nhà Đông Dương (Tây Nguyên), nhưng nó đổ nước ra con sông lớn hơn là Mê Kông ở phía bên kia, địa phận nước Lào- nghĩa là chảy ngược về phía Tây. Chính vì vậy mà cộng đồng ở đây hình thành nên một đặc trưng riêng, không lẫn vào đâu khác ở Đông Dương chứ đừng nói trên lãnh thổ Việt Nam.

Chiều rừng khộp ở khu nghĩa địa có mộ vua săn voi Khunjunop. Ảnh: NHT
Chiều rừng khộp ở khu nghĩa địa có mộ vua săn voi Khunjunop. Ảnh: NHT

Đặc trưng đó thể hiện qua kiến trúc, và đọng lại ở kiến trúc, cho đến ngày nay. Thứ kiến trúc mang cái tình của sơn nguyên, thảo mộc lồng trong cái tâm hồn, văn hóa bên trong của người Lào, người M’Nông, người J’rai, người Ê Đê.

Giao thoa đến mức người Ê Đê - cộng đồng bản địa đông nhất ở cao nguyên Đăk Lăk- khi đến đây không còn thấy rõ tinh thần Ê Đê của mình nữa. Nhà vẫn nhà sàn, nhà dài, nhưng chiều cao hình khối, hình thái kiến kiến, mái, cửa chính, cửa phụ, đến chiếc cầu thang lên xuống cũng khác ở các làng, bon, buôn Ê Đê, J’rai, M’nông khác.

Ngay các hình tượng, hoa văn điểm xuyến trên kiến trúc cũng thể hiện riêng biệt, kết tụ hồn của cả Lào, M’Nông, Ê Đê. Điều thú vị là bản sắc này hình thành tự nhiên, qua sự chung sống, tương tác của cư dân suốt mấy trăm nay nay chứ không phải từ một định hướng nào cả. Nó là một thứ kiến trúc trao đổi chất, dân gian, truyền thống, mà ta có thể gọi là “Kiến trúc Bản Đôn” (nay hành chính gọi là Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk).

Ngay trong nghĩa địa của những làng trong vùng cũng đặc quánh kiến trúc và văn hóa biểu thị về loài voi (ngà voi được tạc dựng lên dày đặc). Ảnh: NHT
Ngay trong nghĩa địa của những làng trong vùng cũng đặc quánh kiến trúc và văn hóa biểu thị về loài voi (ngà voi được tạc dựng lên dày đặc). Ảnh: NHT

Đặc sắc hơn, khi vùng này chính là trung tâm săn bắt và thuần dưỡng voi rừng lớn nhất Đông Nam Á. Rừng ở vùng này là hệ rừng khộp trên đất cát pha -không gian sinh tồn thích hợp nhất của loài voi. Và kiểu rừng này rất mênh mông, trải dài từ đây qua Strung Streng hoang vu của khu vực tây bắc Cambodia lẫn Lào. Đến mức không chỉ kiến trúc, mà cuộc sống ở đây mọi thứ đều có hơi thở, bóng dáng của voi.

Voi thành biểu tượng, vật thiêng của vùng Bản Đôn. Khi Đăk Lăk và Tây Nguyên chưa xuất hiện dân nhập cư nhiều, xứ sở chưa bị xáo trộn, rừng còn nhiều, không gian sống của loài voi còn bao la, thì nhà nào cũng có voi. Cư dân bản địa coi voi như bạn, thành viên của gia đình, và là một thứ tài sản. Gia đình nào cũng có người biết săn voi, và cả xứ sở là một trung tâm săn bắt, thuần dưỡng voi.

Và cái “chợ” voi lớn nhất Đông Dương từng hình thành ở đây. Các nhà thuộc địa Pháp từng ngạc nhiên trước điều này và viết, chụp ảnh để lại nhiều trong các công trình điền dã, khảo cứu về Tây Nguyên. Cũng trong quá khứ, vua quan các nước lân cận còn qua tận đây mua voi. Chính voi đã là “sứ giả”, cầu nối cho các mối bang giao giữa các xứ rừng núi trải dài từ trung lưu sông Sêrepôk đến Thái Lan, Miến Điện.

Và người săn voi giỏi như huyền thoại, lừng danh xứ sở là Y Thu Knul từng tặng cho Vua Xiêm một con voi trắng quí hiếm. Hảo danh “Khunjunốp” (tiếng Thái là “Vua săn Voi”)  của Y Thu Knul vẫn sừng sững cho đến giờ là do Vua Xiêm phong tặng trong quá khứ mù xa đó. Còn Lào trở thành xứ “Vạn tượng” (ngàn Voi) cũng có sự tiếp sức quan trọng từ vùng săn voi này.

Nếu có một thứ “di sản” liên quan đến voi, thể hiện đầy đủ nhất về “văn hóa voi” thì trên lãnh thổ Việt Nam, thậm chí Đông Nam Á chỉ có thể tìm thấy ở đây. Chỉ có điều Việt Nam ngày nay đã không biết khuếch trương giá trị đó.

Sự vẹn nguyên của một không gian sống

Trên cao nguyên Dak Lak, nơi đặt trung tâm hành chính đầu tiên không phải tại Buôn Ma Thuột mà là Bản Đôn (năm 1899) này. Dĩ nhiên quyết định của Paul Doumer-Toàn quyền Đông Dương rất hợp lý ở thời điểm đó, bởi chẳng đâu khác Bản Đôn có sự tụ hội con người sẵn và sôi động như thế giữa một thế giới rừng núi nhiệt đới.

Vì tính đậm đặc và nội lực hẳn rất thâm hậu của các (làng) bon, bản, buôn, plei… ở quanh các cánh rừng, ven con sông Sêrepôk mà hiện nó vẫn còn đậm hình ảnh xưa, thứ không gian sống của người sơn cước miền rừng khộp nhiệt đới và sông suối ban sơ. Bản, buôn, bon, plei trật tự theo các con đường làng; nhà cửa chan hòa dưới bóng cây dầu, me, cà chít, căm xe thuộc hệ rừng khộp, và dưới cái nóng chói chang tàn khốc của thời tiết “miền hạ Lào”.

Kiến trúc đã lai nhưng mang âm hưởng kiến trúc truyền thống Lào xa xưa. Ảnh: NHT
Kiến trúc đã lai nhưng mang âm hưởng kiến trúc truyền thống Lào xa xưa. Ảnh: NHT

Nhà với nhà cách lưa thưa, để kiến trúc được thở, các “tổ người” được độc lập, được thở, nhưng không ngăn cách, vì hiếm thấy bóng hàng rào. Khoảng cách giữa mặt đất và sàn nhà cũng khá rộng cho thoáng mát, và công năng của nó có thể để máy cày, xe công nông, mở quán cà phê, và… treo võng ngủ.

Với cư dân tâm trí còn hướng về thiên nhiên để sống, thì từ lời ăn tiếng nói, sinh hoạt, lề lối, ứng xử của họ bao giờ chả bám vào thảo mộc, “tính rừng”, sự đơn giản, an lành và êm ái chứ. Bản sắc đặc quánh “Bản Đôn” đó còn hiển hiện không chỉ qua kiến trúc, mà ngay lề thói, phong tục, văn hóa gốc của sắc tộc M’Nông, Lào, Ê Đê, J’rai của ngày xa xưa kia vẫn cơ bản còn “sống”.

Ngay người Lào, khi nhập cư vào đây đã đặt tên, mang họ theo kiểu người Ê Đê, M’Nông hết. Và cấu trúc xã hội cũng nghiên về phía mẫu hệ, các lễ hội dân gian xưa, việc sử dụng cồng chiêng làm nhạc cụ chính cho đời sống sinh hoạt, và kể cả cái chết- vẫn làm nhà mồ và điêu khắc tượng gỗ tặng người chết để người chết an vui ở cõi khác.

Họ hấp thụ qua lại văn hóa của nhau. Và thú vị hơn, kiểu kiến trúc xứ voi Bản Đôn còn ảnh hưởng đến các làng, bon, buôn, plei ở xa, với nhiều làng cố làm nhà ở cho giống người ở Bản Đôn.

Sự nguyên vẹn còn tương đối của nó cho ta sự ý vị, về một kiểu không gian sống mà chúng ta đã từng trải qua (và sau đó miệt mài trong xã hội đô thị, với phân lô, cao tầng, bê tông, tường rào, và chợ búa đồng bằng -không thuộc rừng), hoặc không thể có được. 

Để nàng Scarlett cuốn ta theo…

TUYỀN LINH |

“Dẫu sao, ngày mai cũng sẽ khác hơn” (“After all, tomorrow is another day”) - “phát ngôn” - suy nghĩ của nàng Scarlett O’Hara  khép lại tiểu thuyết và bộ phim Cuốn theo chiều gió  80 năm qua lại mở biết bao niềm hy vọng cho hàng triệu bạn đọc/người xem khắp thế giới về  những cơ hội, khả năng tươi sáng sẽ tới sau những biến cố, nghịch cảnh họ phải đương đầu…

Một trăm năm bảo tàng Chăm

HOÀNG VINH |

Được xây dựng từ năm 1915 và khánh thành đầu năm 1919, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là nơi bảo quản và trưng bày các bộ sưu tập quý hiếm bậc nhất về nghệ thuật điêu khắc Chămpa.

Kiều bào xa xứ luôn nhớ cái tết Buôn Mê

Hữu Long |

Dù đi phương trời nào, hằng năm bà con Việt kiều đều trông ngóng trở về Buôn Ma Thuột để đón cái tết đầm ấm bên gia đình...

Ngắm “Cầu Vàng” ở đường hoa Xuân Kỷ Hợi 2019

KHÁNH NGUYÊN |

Mô hình cây Cầu Vàng nổi tiếng của Bà Nà Hills ở TP.Đà Nẵng đã được mô phỏng một cách độc đáo tại đường hoa Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019.