Những nỗ lực không ngừng nghỉ

Tại Đà Nẵng, từ nhiều năm nay, sân khấu tuồng (hát bội, bộ) chỉ đỏ đèn phục vụ cho nhiệm vụ... bảo tồn văn hóa truyền thống hoặc các hoạt động dịch vụ theo đơn đặt hàng của chính quyền, các Cty lữ hành, du lịch. Người yêu thích hầu hết ở tuổi trung niên, người già và du khách người nước ngoài “bị ép” xem vì chương trình ấn định trong tour. Trước nguy cơ sân khấu truyền thống với nhiều giá trị nghệ thuật độc đáo đang mai một, cả ngành văn hóa lẫn chính quyền Đà Nẵng đã có nhiều nỗ lực để duy trì, vực dậy bằng các dự án cải tạo, xây dựng mới nhà hát tuồng, đưa việc giáo dục nghệ thuật tuồng vào các trường học phổ thông, đầu tư cho công tác đào tạo, nuôi dưỡng nghệ sỹ trẻ… Tuy vậy, đến nay sân khấu nghệ thuật tuồng vẫn tồn tại và chỉ có thể sống được bằng cơ chế bao cấp. Thu nhập thấp, sân khấu vắng khán giả đã khiến cho đời sống của nghệ sĩ, diễn viên cũng quạnh quẽ như... nhà hát tuồng.

Từ năm 2015 đến nay, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, TP.Đà Nẵng đã đưa bộ môn nghệ thuật này xuống phố bằng cách tổ chức biểu diễn tại sân khấu ngoài trời ở công viên phía đông bắc cầu Rồng, định kỳ vào tối chủ nhật hàng tuần. Với mong muốn bằng trang phục rực rỡ, mặt nạ ấn tượng, âm nhạc sôi động… sẽ “lôi kéo” khán giả từ sự tò mò. Hy vọng dần dần người dân, du khách sẽ hiểu, yêu mến. Đây không phải là giải pháp riêng của ngành văn hóa tại Đà Nẵng. Khánh Hòa cũng đã “đưa tuồng” xuống phố, Hà Nội cũng đưa chiếu chèo ra vỉa hè, phố đi bộ. Tuy nhiên, những nỗ lực này vẫn chưa có kết quả như mong đợi. Cả du khách lẫn khán giả địa phương vẫn chỉ lướt qua, hoặc tò mò xem 1 lần cho biết rồi bỏ sân khấu đìu hiu dù tổ chức ngoài trời, nơi công cộng. Vì sao?

NSND Trần Đình Sanh - nguyên GĐ nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Đà Nẵng - cho biết: Kể từ ngày đất nước mở cửa, hội nhập thì sân khấu nói chung, sân khấu truyền thống (gồm: tuồng, chèo, dân ca, kịch nói, cải lương...) đã có dấu hiệu chết yểu. Đặc biệt, khi khoa học - công nghệ thông tin phát triển theo kiểu "bùng nổ", công cụ, phương tiện nghe nhìn của người dân đa dạng, tiện ích, sân khấu, tuồng gần như bị khai tử. Rất ít các địa phương, nhà hát tuồng duy trì được sự tồn tại, đỏ đèn định kỳ hằng tuần và nếu có thì đều nhờ vào sự bao cấp của ngân sách. Tuy vậy, sự tồn tại này không bền vững. 

Cổ nhưng không được cũ

Theo NSND Trần Đình Sanh, có nhiều nguyên nhân khách quan về xu thế thời đại dẫn đến "thảm cảnh" của sân khấu truyền thống như hiện nay, nhưng cũng không thể phủi bỏ trách nhiệm - lý do chủ quan từ các nhà hát tuồng, từ tác giả kịch bản sân khấu đến diễn viên. Nhà hát thiếu kịch bản hay, diễn viên thiếu đam mê, thiếu người diễn giỏi.

Nhà hát thiếu kịch bản hay, diễn viên thiếu đam mê, thiếu người diễn giỏi, vì vậy nghệ thuật tuồng không còn hấp dẫn người xem. 
Nhà hát thiếu kịch bản hay, diễn viên thiếu đam mê, thiếu người diễn giỏi, vì vậy nghệ thuật tuồng không còn hấp dẫn người xem. 

Ông Sanh cũng diễn giải, nghệ thuật tuồng là hệ thống ngôn ngữ bác học. Người xem cần phải biết điển tích, biết ngôn ngữ hình thể cách điệu thì mới yêu thích. Đây chính là điều độc đáo của nghệ thuật cổ truyền, nhưng cũng là điểm yếu là thách thách lớn trong công tác bảo tồn, phát triển.

Trong tour du lịch đến Seul, Hàn Quốc, chúng tôi được đưa đến show diễn Cookin Nanta. Liên tưởng đến sân khấu nghệ thuật truyền thống mà các tour du lịch tại Việt Nam đưa du khách đến xem, ban đầu chúng tôi đều không thích thú. Thế nhưng, trong 90 phút của show, dường như mọi khán giải đều không thể rời mắt khỏi sân khấu với sự hứng thú, sự hấp dẫn đến từng giây. Show diễn kể về câu chuyện 3 đầu bếp tài năng đang cố gắng hoàn thành tiệc cưới với thời gian ngắn. Kịch tích ở chỗ người quản lý của nhà hàng lại sắp xếp một người cháu của họ đang học việc cùng thực hiện buổi tiệc khiến mọi chuyện trở nên rắc rối. Cốt truyện đơn giản, cùng sự biểu diễn khéo léo hài hước, tương tác liên tục với người xem khiến toàn bộ khán giả đều bật cười nghiêng ngả.

Hướng dẫn viên của đoàn giới thiệu thêm, du khách mọi quốc gia đều có thể dễ hiểu nội dung bởi nghệ sỹ đã chuyển thể tất các kịch bản bằng ngôn ngữ hình thể, vũ điệu, bằng những màn múa võ, múa dao, và tất cả các dụng cụ bếp khác vô cùng điêu luyện. Sự độc đáo của show là sự kết hợp tài tình của dụng cụ âm nhạc truyền thống Samul Nori của Hàn Quôc, sự  hoà quyện giữa 4 loại nhạc cụ kwaengwari (chiêng), jing (chiêng), janggu (trống) buk (trống)… vì vậy đã thu hút trên 300.000 lượt khách mỗi năm ở Seoul và được đón nhận nhiệt liệt trên 30 quốc gia.