Đặt chân lên từng phía đá của thành cổ Hwaseong ở Suwon, Hàn Quốc tôi thầm khâm phục sự nâng niu lịch sử, gìn giữ di tích của xứ sở Kim Chi. Dù rằng, những phiến đá sạch nhẵn, êm thấm kia là hoàn toàn  phục chế, trùng tu, không còn nguyên mẫu. Chỉ có câu chuyện về “Thành phố của lòng hiếu thảo” là còn nguyên vẹn và là tâm điểm gây xúc động đến du khách thâp phương.

Thành cổ Hwaseong ở Suwon, Hàn Quốc
 
Thành cổ Hwaseong ở Suwon, Hàn Quốc
 

Nhưng câu chuyện này cũng chỉ là truyền thuyết. Tên Suwon được vua Taejong của vương triều Joseon năm 1413 đặt. Khoảng thế kỷ XVIII, vua Yeongjo nghi ngờ hoàng tử Sado mưu phản nên đem xử tử. Khi đó, vợ hoàng tử Sado và con trai Jeongjo trốn thoát được. Khi vua Yeongjo qua đời không có người kế nghiệp, Jeongjo được đưa lên kế vị. Vua Jeongjo muốn dời đô từ Seoul về Suwon – nơi có phần mộ của cha mình (hoàng tử Sado). Và ông đã cho xây bức tường thành quy mô đồ sộ bao quanh Suwon. Vua Jeongjo băng hà sớm, chưa kịp dời đô. Nhưng kể từ đó hằng năm, các vua của vương triều Joseon đều đến tế lễ hoàng tử Sado. Vì thế Suwon được người đời sau mệnh danh là "TP của lòng hiếu thảo".

Cái nắng lạnh của trời thu xứ Kim Chi dường như làm mềm lòng người. Có lẽ vậy mà câu chuyện truyền thuyết về TP của lòng hiếu thảo mang cảm giác ngọt lành cho du khách đang thưởng ngoạn chốn này. Nhưng tôi chợt buồn, nhớ về thành cổ Nhà Hồ hắc hiu ở xứ mình.

Thành Nhà Hồ (nay thuộc xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), cổ xưa hơn thành Hwaseong, được Hồ Quý Ly cho xây vào mùa xuân năm 1397. Thành còn gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long, Hà Nội). Nơi đây từng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa vào cuối triều Trần và kinh đô của nước Đại Ngu trong khoảng 7 năm, từ 1400 đến 1407.

 Một góc thành Nhà Hồ, Thanh Hóa. Ảnh: Thanh Hải
 Một góc thành Nhà Hồ, Thanh Hóa. Ảnh: Thanh Hải

Khác với Hwaseong, thành Nhà Hồ là di tích nguyên bản. Những khối đá to đồ sộ nguyên khối 3-4m, chồng lên nhau, thành lũy dài. Chỉ có điều đang để cỏ, hoa dại phủ đầy. Trong lần tôi ghé thăm, đi trên con đường xuyên qua hoàng thành, lúa đương “thì con gái” thơm một mùi đồng quê mênh mang, đầy cảm xúc.

Phía cuối bờ thành có ngôi miếu nhỏ, thờ nàng Bình Khương. Nói đúng hơn là thờ một câu chuyện của lòng thủy chung đầy cảm động. Trên bảng di tích của đền thờ có ghi rằng: Năm 1397, để nhanh chóng dời đô từ Thăng Long về đất An Tôn, Hồ Quý Ly đã gấp rút sai quân lính ngày đêm đào thành, đắp lũy. Trong số người tham gia việc đốc công có chàng Cống sinh Trần Công Sĩ. Viên quan này được Hồ Quý Ly giao nhiệm vụ trực tiếp giám sát, đốc thúc thi công bức tường thành phía Đông. Quan quân ngày đêm làm việc không nghỉ để đảm bảo tiến độ, trong 3 tháng phải hoàn thành “kinh đô bất khả chiến bại”.

Tiến độ thi công gấp rút nghiêm ngặt là thế, nhưng đoạn thành phía Đông do Trần Công Sỹ phụ trách cứ xây gần xong lại đổ sập, không ai rõ nguyên nhân. Nghi ngờ Trần Công Sỹ có mưu làm phản, cố ý chậm trễ, Hồ Quý Ly tức giận hạ lệnh cho quân lính đem vùi thân chàng vào ngay vị trí bức tường thành bị đổ để làm gương răn đe.

Vợ Cống sinh là nàng Bình Khương nghe tin chồng bị xử tội chết oan nên rất uất hận. Đau khổ tột cùng, nàng lao tới bức tường đá, lấy hết sức để xô đổ những tảng đá xây thành mong nhìn thấy xác người chồng vắn số. Kiệt sức nhưng bức tường thành vẫn không hề rung chuyển, Bình Khương quyết định đập đầu vào đá để được chết theo chồng. Kỳ lạ phiến đá nơi nàng tuẫn tiết lõm xuống một hố rất sâu như hình đầu người và hai vệt bàn tay cào xé.

Cảm thương trước người phụ nữ tiết nghĩa, người dân địa phương đã lập đền thờ nàng ngay sát bức tường phía cửa đông thành. Phiến đá in dấu đầu người và hai bàn tay được đưa vào đền thờ.

Ở thành Nhà Hồ còn vô vàng những câu chuyện bí ẩn xung quanh các hiện vật, nhưng tất cả còn ngủ quên, hoặc chưa khai thác hết để du khách gần xa thưởng ngoạn. Tiếc.

Đền thờ nàng Bình Khương. Ảnh: Thanh Hải
Đền thờ nàng Bình Khương. Ảnh: Thanh Hải
Phiến đá với câu chuyện thủy chung đầy trắc ẩn, xúc động được thờ trong đền. Ảnh: Thanh Hải
Phiến đá với câu chuyện thủy chung đầy trắc ẩn, xúc động được thờ trong đền. Ảnh: Thanh Hải
 Ngọ môn ở thành Nhà Hồ. Ảnh: Thanh Hải
 Ngọ môn ở thành Nhà Hồ. Ảnh: Thanh Hải
 Một đoạn thành Nhà Hồ. Ảnh: Thanh Hải
 Một đoạn thành Nhà Hồ. Ảnh: Thanh Hải