Di tích Mộ và đình Nguyễn Trung Trực nhìn từ bên ngoài. Ảnh: Lục Tùng
Di tích Mộ và đình Nguyễn Trung Trực nhìn từ bên ngoài. Ảnh: Lục Tùng

LTS:

Từ ngày 5 - 7.102018, tỉnh Kiên Giang long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 150 năm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868) hy sinh. Ông được xem là vị anh hùng đánh Tây không chỉ với 2 chiến công lừng lẫy: đốt tàu giặc trên vàm Nhật Tảo (Long An), chiếm giữ và làm chủ đồn Kiên Giang trong nhiều ngày mà còn là tác giả của câu nói bất hủ về tinh thần bất khuất trước ngoại bang: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì nước Nam mới hết người đánh Tây”. Tuy nhiên, do nhiều lý do lịch sử, xung quanh di tích mộ, đình cũng như nghi thức cúng tế ông hiện đang còn có ý kiến trái chiều. Với tinh thần biểu thị thái độ tôn trọng đối với người anh hùng áo vải được nhân dân phong “thần” và cả sự thận trọng với hiện tại và tương lai, Lao Động xin gởi đến bài viết. Rất mong nhận được góp ý để cùng làm sáng tỏ vấn đề.

Đình Nguyễn Trung Trực là cách nói tắt cụm kiến trúc đươc công nhận là dic tích cấp Quốc gia gồm: Mộ và ngôi đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tọa lạc tại Rạch Giá – thành phố bên bờ biển Tây của tỉnh Kiên Giang. Đến đây, du khách không chỉ được ngắm nhìn kiến trúc đẹ, mà còn được trải nghiệm, được hòa vào dòng cảm xúc linh thiêng lịch sử, văn hóa... lấp lánh hào khí Nam bộ.

Công trình kiến trúc đẹp – lạ

Nằm bên bờ sông hiền hòa phía Tây thành phố biển Rạch Giá, cách cửa biển khoảng hơn 100m, chỉ với vị trí tọa lạc, đình Nguyễn Trung Trực (đình Ông Nguyễn) đã đủ sức thu hút bao bước chân thích khám phá vùng đất phương Nam.

Tượng Nguyễn Trung Trực an vị trước chính điện. Ảnh: Lục Tùng
Tượng Nguyễn Trung Trực an vị trước chính điện. Ảnh: Lục Tùng
Tuy nhiên, chỉ cần bước qua cổng “tam quan” là cả một thế giới hình khối, sắc màu chờ đón, sẵn sàng làm du khách tan chảy cảm xúc. Nhưng chỉ với cổng tam quan, đã đủ làm nhiều người như hòa mình vào dòng chảy lịch sử yêu nước, dòng chảy của văn hóa đặc thù Nam bộ. Chiếc cổng cổ kính với mái ngói hai tầng trang trí hình "lưỡng long tranh châu" trên đỉnh. Hai bên là đôi câu đối bằng chữ Quốc ngữ được đắp nổi cách điệu theo dạng chữ tròn sơn vàng trên nền đỏ thể hiện hai câu trong bài thơ “Điếu Nguyễn Trung Trực” của nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt tôn vinh người anh hùng làng chài đã lãnh đạo người dân yêu nước giáng lên đầu quân thù bằng 2 chiến công đi vào sử sách: đốt tàu Tây trên vàm Nhật Tảo, đánh chiếm, giữ và làm chủ đồn Kiên Giang trong nhiều ngày:

“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”

Và dòng chảy đó ngày càng mạnh mẽ, cuồn cuộn... hiện về khi du khách đặt chân vào bên trong. Đầu tiên là bức tượng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868) ngự ngay trước thềm chính điện. Tượng được đúc bằng đồng theo thế toàn thân nên trông oai nghiêm, sống động với khí thế trung nghĩa, bất khuất. Cách đó không xa, dưới bóng mát rười rượi của cây đa cổ thụ, thân to dễ chừng đến 5-7 vòng tay người lớn, là ngôi mộ vị Anh hùng được cải táng vào năm 1986 và được chính tay ông Võ Văn Kiệt- lúc đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng- đặt viên đá đầu tiên.

Mộ Anh hùng Nguyễn Trung Trực nằm dưới tán cây đa cổ thụ trong khuôn viên di tích. Ảnh: Lục Tùng
Mộ Anh hùng Nguyễn Trung Trực nằm dưới tán cây đa cổ thụ trong khuôn viên di tích. Ảnh: Lục Tùng
Mộ được thiết kế với hai phần mồ và bia chỉ ghi vỏn vẹn dòng chữ “Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1838-1868)”, giản dị như chính cuộc đời của người anh hùng xuất thân từ dân chài này. Và đây có lẽ là điều hiếm thấy so với các di tích thờ nhân thần khác khi mộ và đình tọa lạc trong cùng một khuôn viên. Cạnh mộ có phiến đá to được chạm khắc chìm câu nói bất hủ của ông như lời thắp lửa lòng yêu nước thế hệ hôm nay và mai sau: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì nước Nam mới hết người đánh Tây”.
Câu nói bất hủ của ông được tạc vào phiến đá đặt cạnh ngôi mộ. Ảnh: Lục Tùng
Câu nói bất hủ của ông được tạc vào phiến đá đặt cạnh ngôi mộ. Ảnh: Lục Tùng

Vì vậy, tuy chưa phải là ngôi đình thật cổ xưa, có giá trị tiêu biểu về kiến trúc thật hoành tráng, nhưng đình Nguyễn Trung Trực lại có sức hút du khách rất lớn. Cũng như bao ngôi đình thờ thần ở Nam bộ, đình Ông Nguyễn được xây theo kiểu chữ tam, gồm chính điện, Đông lang và Tây lang.

Và vẫn với hình ảnh “lưỡng long tranh châu” lực lưỡng ngự vị trí trang trọng trên đỉnh mái và vẫn mái đao cong vút lên nền trời xanh... nhưng đình Nguyễn Trung Trực lại mang đến cho du khách cảm giác thanh tịnh, tôn nghiêm và lạ mắt bởi nghệ thuật cách điệu.

Hình ảnh “lưỡng long tranh châu” nằm ngay trên bản chữ Hán “Nguyễn Trung Trực miếu“. Ảnh: Lục Tùng
Hình ảnh “lưỡng long tranh châu” nằm ngay trên bản chữ Hán “Nguyễn Trung Trực miếu“. Ảnh: Lục Tùng
Tất cả từ rồng - phụng cho đến chân tượng, góc mái được “cẩn” hình hoa lá cách điệu thành hình rồng phượng từ những mảnh gốm nhiều màu nên trông đẹp lạ và thú vị. Và ngay bên dưới hình tượng “lưỡng long tranh châu” được cẩn bằng gốm màu là tấm biển “nhận diện” ngôi đình với dòng chữ Hán: “Nguyễn Trung Trực miếu” nổi bật trên nền mái đình được lợp bằng ngói ống đầy hình khối. Càng vào trong, ngôi đình càng hiện diện rõ sự khác biệt thú vị.
Hình ảnh rồng- phượng thật sinh động khi được ghép bằng gốm màu. Ảnh: Lục Tùng
Hình ảnh rồng- phượng thật sinh động khi được ghép bằng gốm màu. Ảnh: Lục Tùng
Hai cột đầu tiên phía “mặt tiền” được đắp nổi hình rồng uốn lượn theo thế bay lên, tạo cho người xem cảm giác về sức mạnh “thăng long” ngay khi bước chân đầu tiên vào ngôi chính điện. Bên trong, đình được bày trí theo phong cách truyền thống Nam bộ với các ngôi thờ: ba mươi vị anh hùng dân tộc, Chư vị hội đồng trăm quan cựu thần và Cửu huyền thất tổ... Cuối ngôi đền là ba ngôi thờ chính: Ngay giữa thờ Nguyễn Trung Trực.
Ảnh và linh vị Nguyễn Trung Trực được thờ giữa chính điện. Ảnh: Lục Tùng
Ảnh và linh vị Nguyễn Trung Trực được thờ giữa chính điện. Ảnh: Lục Tùng
Phía bên trái có ngôi thờ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều và Phó lãnh binh Lâm Quang Ky – vị phó tướng duy nhất của Ông Nguyễn và được người đời xưng tụng là “Lê Lai Kiên Giang” vì đã tự nguyện xả thân mình để cứu chủ tướng thoát khỏi vòng vây quân thù. Phía bên phải là ngôi thờ thần Nam Hải Ðại tướng quân. Trên cao ngôi thờ Anh hùng Nguyễn Trung Trực là bức hoành phi chữ Hán được chạm khắc tinh xảo cả về đường nét lẫn nội dung (đọc từ phải sang: Anh khí như hồng- ý ca ngợi chí anh hùng của ông sáng như cầu vòng bảy sắc). Đây cũng là nét đặc trưng của đình thờ Nguyễn Trung Trực.
Hình ảnh hoa lá cách điệu rồng ở vị trí mái đao cao vút lên nền trời xanh đã tạo ra sự khác biệt đẹp- lạ cho ngôi đình. Ảnh: Lục Tùng
Hình ảnh hoa lá cách điệu rồng ở vị trí mái đao cao vút lên nền trời xanh đã tạo ra sự khác biệt đẹp- lạ cho ngôi đình. Ảnh: Lục Tùng
Bởi dọc các hàng cột bên trong đều bố trí các đôi liễn bằng chữ Hán được chạm khắc công phu với nội dung ca ngợi công đức của vị Anh hùng dân tộc... Vì thế, mà ngày nay, đình không chỉ là điểm sinh hoạt tâm linh, tham quan, thăm viếng... mà còn được giới trẻ chọn làm điểm chụp ảnh cưới.
Ngày nay, đình không chỉ đón du khách đến tham quan, tín ngưỡng mà còn là điểm để các cặp đôi trẻ đến chụp ảnh cưới. Ảnh: Lục Tùng
Ngày nay, đình không chỉ đón du khách đến tham quan, tín ngưỡng mà còn là điểm để các cặp đôi trẻ đến chụp ảnh cưới. Ảnh: Lục Tùng

Những khúc thăng – trầm

“Khởi đầu, đình Nguyễn Trung Trực không phải thờ Nguyễn Trung Trực”- nhà nghiên cứu Trương Thanh Hùng – nguyên Chủ tịch Hội Văn nghệ Kiên Giang – đã làm tôi ngạc nhiên thú vị với thông tin có phần hơi bị “sốc” này. Theo lưu truyền, vào khoảng cuối thập niên 30 thế kỷ XIX, vào một đêm mưa to, gió lớn, tại vàm Giá Khê (Rạch Giá) thuộc làng Vĩnh Thanh Vân, có cá Ông trôi dạt tấp vàovà lụy ( chết ). Dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề biển, họ rất quý loài cá thường xuyên giúp thuyền ghe trên biển vượt sóng to, gió lớn nên cử người báo làng và xin cất lên ngôi thờ gần nơi Ông lụy Công trình được cất lên bằng cây lá, nhưng người dân vẫn tôn kính gọi là “Đình thờ Thần Nam Hải“.

Phần xương cốt của Cá Ông trưng bày tại di tích. Ảnh: Lục Tùng
Phần xương cốt của Cá Ông trưng bày tại di tích. Ảnh: Lục Tùng
Sau năm 1840, người dân đưa thủ cấp của cụ Phó Cơ Nguyễn Hiền Điều (? – 1834) vào thờ (Hiện thủ cấp vẫn còn tại đây. Sự việc này khá phức tạp, sẽ trình bày vào bài viết riêng) nên đình được tu sửa, mở rộng. Vì vậy năm Tự Đức thứ 5 (1852), vua ban cho đình 2 sắc thần là “Thành Hoàng Bổn Cảnh” và Thần Nam Hải (Sắc Đại càn quốc gia Nam Hải Đại tướng quân Tôn thần). Đến năm 1868, khi Nguyễn Trung Trực bị kẻ thù hành quyết không xa điểm này nên người dân lập bài vị đưa vào đây thờ theo kiểu “tùng tự”. Rồi âm thầm đóng góp công sức xây dựng lại ngôi đình khang trang hơn và tôn kính gọi vị Anh hùng dân tộc là Ông Nguyễn. Tuy nhiên đến năm 1881, đình bị xuống cấp nghiêm trọng, các vị hương chức và bà con ngư dân có ý định cần sửa sang lại. Lúc ấy, ở Sở Thương chánh gần đình có Ông Lenestour - người Pháp, có vợ người Việt, ông có cả tên tiếng Việt là “Lê Đức Tâm” - rất tôn kính ông Nguyễn- nên hưởng ứng tích cực bằng cách hiến phần đất ở làng Vĩnh Thanh, không xa nơi cũ lắm, để cất mới. Đây cũng là vị trí ngôi đình hôm nay.

Tuy nhiên, đúng 40 năm sau khi ông Nguyễn hy sinh, (1908), trong buổi cúng Kỳ yên, viên tỉnh trưởng người Pháp tới dự. Vì đọc được chữ Hán, hắn ta biết được ngôi đình đang thờ linh vị Ông Nguyễn nên tức giận bỏ về. Lo sợ hắn ác cảm với người dân, Ban Hội của làng không dám duy trì việc thờ Ông Nguyễn nữa. Chuyện đến tai ông Lenestour, không biết tác động thế nào đến tên tỉnh trưởng mà sau đó chàng rể Pháp đã mang linh vị Ông Nguyễn về trang trại của mình ở Tân Điền (xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang ngày nay) rồi cất ngôi thờ bằng cây lá. Khi Lenestour qua đời, con cháu vẫn hương khói. Nhưng đến năm 1945, Nhật đảo chánh, con cháu của ông lánh nạn, phải tứ tán, ngôi thờ lạnh lẽo. Xót xa trước cảnh gió dập, mưa vùi, người dân Rạch Giá lại âm thầm thỉnh linh vị Ông Nguyễn trở lại đình cũ. Lúc đó, ngôi đình đã có 3 ngôi thờ chính: Giữa là Thành Hoàng Bổn Cảnh, bên phải là Thần Nam hải, chỉ còn ngôi thờ bên trái là thờ cụ Nguyễn Hiền Điều nên người dân đã đặt linh vị Ông Nguyễn lên đây thờ cúng theo ý nghĩa của vị Tiền hiền (Tiền hiền là người tài giỏi có công khai mở, bảo vệ vùng đất). Theo “Nhà Hà Tiên học” Trương Minh Đạt, mãi đến năm 1957, cùng với sự kiện tỉnh Kiên Giang thành lập ngôi trường Trung học phổ thông đầu tiên mang tên Nguyễn Trung Trực, linh vị của Ông trong đình cũng được người dân dời vào bàn thờ chính giữa. Như vậy từ chỗ “tùng tự”, lòng dân đã đưa Ông Nguyễn bước lên ngai thờ chính. Đó là sự tôn vinh của lòng dân, nói cách khác ông là vị Thần được nhân dân phong sắc. Và cũng thời gian này, bức ảnh chân dung của Ông ra đời và lưu truyền đến ngày nay.

Theo ông Trương Minh Đạt, với mục đích làm tăng thêm vẻ uy nghi của vị Anh hùng dân tộc, người ta thiết kế thêm bức hình Ông Nguyễn để thờ. Theo ông Đạt, bức ảnh được vẽ trên cơ sở mô phỏng theo hình vẽ đang lưu hành đường thời về các nhân vật yêu nước như Phan Đình Phùng, Thủ khoa Huân... Vì thời điểm đó, miền Nam chưa có máy chụp hình nên sau này không ai có thể biết được mặt thật của cụ. Nghĩa là có thể bức chân dung không chắc giống Ông Nguyễn, nhưng vẫn tìm tàng một ánh mắt, một vành môi... của các bậc anh hùng. Nhà nghiên cứu Trương Thanh Hùng, trong bức thư tay gởi riêng cho lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, đã cho biết, tác giả của bức ảnh Ông Nguyễn là họa sĩ Tú Duyên.

Phối cảnh Ông Nguyễn lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm đồn Kiên Giang. Ảnh: Lục Tùng
Phối cảnh Ông Nguyễn lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm đồn Kiên Giang. Ảnh: Lục Tùng

Sau đó lần lượt vào các năm 1964, năm 1970 rồi năm 1994 và nhiều năm gần đây, ngôi đình liên tiếp được sửa chữa, mở rộng và khanh trang. Đặc biệt từ năm 1989 từ nhu cầu thực tế trong nhân dân, đình Ông Nguyễn mở thêm hoạt động khám chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền. Phòng khám hoàn toàn miễn phí, nhưng cứu được nhiều bệnh nhân mắc chứng nan y nên mỗi ngày đón hàng trăm bệnh nhân. Năm 2005, sau khi đến đây viếng đình Ông Nguyễn, trực tiếp chứng kiến hoạt động khám chữa bệnh nơi đây, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương gởi thư khen ngợi. Trong đó có đoạn viết: “Trong thực trạng chung hiện nay, nhiều cơ sở tín ngưỡng đang bị lợi dụng hành nghề mê tín, sử dụng sai mục đích tiền công đức của khách thập phương, phục hồi lễ hội cổ thái quá gây tốn kém, lãng phí cho xã hội, thì mô hình quản lý di tích văn hóa – lịch sử kết hợp với khám chữa bệnh miễn phí tại đình Nguyễn Trung Trực là điển hình tốt, cần được các bộ, ban ngành, chính quyền các cấp liên quan nghiên cứu, phổ biến và nhân rộng”.

Hoạt động khám chữa bệnh miễn phí tại di tích. Ảnh: Lục Tùng
Hoạt động khám chữa bệnh miễn phí tại di tích. Ảnh: Lục Tùng
Đến năm 2012, đình lại được đầu tư xây mới Nhà trưng bày về thân thế và sự nghiệp của AHDT Nguyễn Trung Trực theo kiểu 3 gian, bằng vật liệu kiên cố với nền móng, cột, kèo, mái bằng bê tông cốt thép. Mái lợp ngói âm dương, cửa gỗ danh mộc. Bên trong thiết kế tranh ảnh, hiện vật sưu tầm,và mô hình hai trận đánh lịch sử của cụ Nguyễn: Trận đốt tàu Espérance trên Vàm Nhựt Tảo và trận đánh đồn Kiên Giang.

Vì vậy, đến với Di tích Mộ và đình Nguyễn Trung Trực, du khách không chỉ cảm nhận được không gian thanh tịnh, cảm giác tôn nghiêm, thành kính... mà còn thắp được thắp lên ngọn lửa tự hào từ cuộc đời chiến đấu anh dũng của vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.